Thứ sáu, 6/12/2019 | 19:29 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Condotel nhìn từ vụ Cocobay Đà Nẵng 'vỡ trận' Món Huế đóng cửa Kết quả kinh doanh quý III/2019 Cú lao dốc của FTM Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung
Thứ ba, 23/7/2019, 08:12 (GMT+7)

VEPR: Vốn Trung Quốc qua EPC đáng lo ngại hơn dòng FDI

Nam Anh Thứ ba, 23/7/2019, 08:12 (GMT+7)

FDI tăng nhanh nhưng chưa vượt trội

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Trung Quốc vào Việt Nam có sự tăng lên. Tuy nhiên, theo PGS TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Nghiên cứu Kinh tế & Chính sách (VEPR), vốn FDI từ nước này chưa thực sự vượt trội so với các nhà đầu tư khác.

Phân tích các số liệu tại buổi báo cáo "Một số nhận định về vốn đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam" chiều 22/7, VEPR chỉ ra vốn FDI Trung Quốc chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ so với các nhà đầu tư tới từ Nhật Bản, Hàn Quốc. Năm 2018, vốn Trung Quốc bằng khoảng 1/2 vốn Nhật Bản, Hàn Quốc.

Tuy "rót" nhanh nhưng theo ông Thành, vốn FDI Trung Quốc không quá đặc biệt. Nước này đầu tư khá đều cả về địa bàn phân bổ cũng như ngành nghề.

Von.PNG-7077-1563846346.png

Vốn đăng ký mới và tăng thêm giai đoạn 2012 - 2018.

Tại khu vực ASEAN, trong những năm gần đây, Trung Quốc rót vốn nhiều nhất vào 2 nước Malysia, Indonesia. Việt Nam và Thái Lan là các nước tiếp theo trong danh sách này.

Viện trưởng VEPR nhận định, ảnh hưởng của dòng vốn FDI tới kinh tế xã hội Việt Nam không nhiều dù có gây ra một số hệ quả về môi trường, xã hội, thị trường lao động. Vì vậy, tính thị trường của vốn FDI do các doanh nghiệp đầu tư cao hơn. Các nhà đầu tư chỉ tham gia khi mang lại lợi nhuận. Trước đó, họ cũng đã đánh giá tính hấp dẫn của thị trường Việt Nam.

Von.PNG-7519-1563846346.png

Vốn FDI của Trung Quốc vào các nước ASEAN. Nguồn: VEPR tổng hợp.

Ông cho rằng ảnh hưởng thực sự của vốn Trung Quốc đến từ hệ thống các hợp đồng tổng thầu (EPC), tiêu biểu nhất trong lĩnh vực năng lượng và cơ sở hạ tầng. Dòng vốn này gây ra những lo ngại về tham nhũng, tác động xã hội, phụ thuộc tài chính, vấn đề môi trường và hiệu quả kinh tế...

Hệ lụy từ EPC

Cụ thể hơn, TS Phạm Sỹ Thành, Giám đốc Chương trình nghiên cứu kinh tế Trung Quốc (VCES), chỉ ra 3 vấn đề về kỹ thuật, tác động môi trường và chậm tiến độ của các nhà thầu Trung Quốc.

2 nhà máy nhiệt điện Hải Dương (EPC Trung Quốc) và Mông Dương 1 (EPC Hàn Quốc) cùng được đưa ra vào cuối năm 2011, đầu năm 2012.

Trong khi tổng thầu nhà máy Mông Dương 1 nhiều lần xin gia hạn tài chính, lùi tiến độ và đến tháng 7/2018 mới chỉ thi công được 30% tiến độ, nhà máy Hải Dương đã hoàn thành cả 2 tổ máy vào năm 2015. Đến nay, nhà máy do Hàn Quốc phụ trách đã sản xuất được 12,86 tỷ kWh điện.

nhamay.PNG-6486-1563846347.png

Tiến độ 2 nhà máy Hải Dương (EPC Trung Quốc) và Mông Dương (EPC Hàn Quốc). Nguồn: VEPR.

Về kỹ thuật, so sánh giữa nhà máy nhiệt điện Na Dương (EPC Nhật Bản) và Cẩm Pha (EPC Trung Quốc), TS Thành dẫn chứng nhà máy do Trung Quốc phụ trách nhiều lần xảy ra sự cố với hậu quả nghiêm trọng. Nhà máy nhiều lần phải dừng hoạt động do cháy nổ phòng ác quy, cánh quạt tổ phát điện bị hỏng...

Trong số 30 nhà máy nhiệt điện của EPC Trung Quốc đang được vận hành, 19 nhà máy có các phản ánh về vấn đề môi trường.

Với lĩnh vực hạ tầng, VEPR nêu ví dụ về tình trạng đội vốn 315 triệu USD của đường sắt Cát Linh - Hà Đông. Sau nhiều năm chậm tiến độ, đến nay, dự án này đến nay vẫn chưa được đưa vào khai thác thương mại.

Thực tế, theo ông Thành, vốn Trung Quốc dù với lãi suất thấp cũng không rẻ hơn so với các nước như EU, Nhật Bản. Bởi tổng thầu Trung Quốc thường tính thêm các chi phí liên quan đến hợp đồng. Khi cộng lãi, mức lãi suất thực tế của nước này xấp xỉ các nước có công nghệ tiên tiến.

Lỗi tại ai?

Theo ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Thương mại, bất kỳ nước nào cũng muốn đẩy công nghệ cũ ra nước ngoài, không riêng các doanh nghiệp Trung Quốc. Thực tế, quyền lựa chọn dự án đầu tư, nhà thầu, công nghệ là của Việt Nam.

"Trung Quốc thực tế là một nước rất giỏi về xây dựng hạ tầng, nhưng tại sao dự án Cát Linh – Hà Đông lại như thế? Lỗi tại nhà thầu nhưng cũng có lỗi của chúng ta", ông Tuyển nói.

Ông Tuyển thừa nhận bản thân cũng từng sợ đầu tư Trung Quốc trước những tin đồn về vốn nước này. Dù vậy, ông cho rằng cần phải tỉnh táo, công bằng hơn khi đánh giá về mối quan hệ kinh tế với nhà đầu tư Trung Quốc.

"Trung Quốc ngày càng đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài qua chiến lược Vành đai & Con đường, ngân hàng AIIB và các sự án M&A, mua lại công ty năng lương công nghệ.Không còn cách nào khác chúng ta phải nâng cao trách nhiệm của mình lên", ông Tuyển nhấn mạnh.

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo