Thứ năm, 2/9/2021, 07:30 (GMT+7)

Ước mơ

Thành công của một xã hội, có lẽ là nơi không ước mơ nào trở nên hoang đường.

Quỳnh có ước mơ trở thành một người chăn gà. Nhưng đó là một ước mơ hoang đường.

Cô sinh ra ở một ngôi làng thuần nông vùng trung du. Đó là nơi mà người nông dân đã quen với việc tài sản phải tích lũy qua hơn một thế hệ. Từ lúc san một vệt đồi lấy đất bằng, cho đến lúc dựng được cái nhà gỗ, rồi có đủ giường tủ, phải là hàng chục năm lao động. Gia đình Quỳnh cũng thế.

Nhưng thế kỷ 21 ập đến cùng với một lời hứa: nếu đầu tư cho giáo dục, bạn có thể thay đổi số phận chỉ trong vòng một thế hệ.

Mẹ Quỳnh tuyệt đối tin vào kịch bản đó. Ngày Quỳnh tốt nghiệp cấp 3, mẹ làm đơn vay ngân hàng chính sách cho con đi học đại học. Cả làng chỉ có Quỳnh đi học. Ngày cô lên Thái Nguyên học, mảnh đất cạnh nhà cha mẹ mới được san, để chờ cất căn nhà cho anh trai lấy vợ.

Quỳnh ra trường, chưa tìm được việc làm phù hợp ngay, nhưng khoản nợ ngân hàng chính sách đã đến hạn. Cô không có điều kiện để chờ đợi. Quỳnh xin mẹ được về quê, lập một trang trại gà nhỏ. Nhưng người mẹ không đồng ý. Bà đã chịu cơ cực để con được “ăn học đàng hoàng” và không chấp nhận được viễn cảnh con mình lại trở thành nông dân. Quỳnh phải ở lại thành phố. Và cô gái ngoài 20 - cất tấm bằng đại học đi - xin vào làm công nhân nhà máy.

Quỳnh dự định làm công nhân cho đến khi trả hết nợ học đại học. Nhưng những ngày tháng đó, cô vẫn không ngừng nghĩ đến ước mơ “có trang trại gà”.

“Mẹ không cho em về”, cô thở dài, bên hông một xóm trọ ngoại thành Hà Nội. Mỗi sáng tỉnh dậy, nhìn lên trần xốp căn phòng là một lần Quỳnh thở dài. Bây giờ người mẹ còn chịu thêm cả điều tiếng từ làng xã, rằng vay mượn cho con đi học đại học mà giờ phải làm công nhân. Quỳnh càng không được phép trở về.

Tôi đã đi bộ cạnh Quỳnh dọc những khu trọ nhỏ bên hông thành phố đó, vào những tối rất muộn, vì Quỳnh phải tan giờ “làm âu” (cách họ gọi tắt chữ overtime – thứ duy nhất đảm bảo thu nhập của công nhân). Và tôi nghĩ về ước mơ của mình. Chúng tôi cùng sinh ra trong một thế hệ mà việc học đại học, sau đó tìm lấy một công việc tốt và phấn đấu để có mức lương cao là một điều hiển nhiên. Nhưng tất cả những điều đó đều được sắp xếp năm 17 tuổi, khi chưa ai trong số chúng tôi được hỏi, hay được khuyến khích nghĩ về mơ ước của mình.

Bố hoặc mẹ sẽ dắt tay lên thành phố, ghi danh thi tuyển đại học, rồi thuê một phòng trọ nhỏ, chạy đi mua cơm và nhường cái quạt duy nhất cho con ngồi ôn lại bài lần cuối. Như trong phim Chuyện nhà Mộc hồi thập kỷ 90. Thế thôi, rồi con đường cao tốc bắt đầu, không có đường ngang.

Vấn đề phát sinh khi đến quãng năm ngoài 20 tuổi tôi phát hiện ra mình yêu thích một số thứ nhất định, và hình thành cái gọi là “tưởng tượng” hay “ước mơ”. Năm thứ ba của đại học Kiến trúc Hà Nội, tôi mơ ước trở thành người viết. Ước mơ này nghe còn hoang đường hơn cả chăn gà. Gia đình tôi phản đối.

Chúng tôi đã sinh ra trong một thế hệ của rất nhiều ước mơ hoang đường. Đi tiếp đại lộ “học đại học và đi xin việc làm tốt” là con đường mưu cầu hạnh phúc chủ đạo. Tôi có cậu bạn cùng lớp ở Kiến trúc bỏ ngang đại học để mơ thành game thủ chuyên nghiệp. Lúc đó tôi thấy cậu này hoang đường hơn cả mình.

Tôi đã biết rằng mình sẽ không thể học tiếp Đại học Kiến trúc nữa ở năm thứ 3. Và đó là những ngày mà đôi lúc tôi ăn cơm ở quê phải cúi gằm mặt khi họ hàng (cố tình) hỏi về việc học, bằng một giọng trách móc.

Nhưng rồi rất nhanh, chúng tôi bước vào một thời đại mà “nuôi gà” trông có vẻ có triển vọng kinh tế hơn nhiều so với “làm nhân viên văn phòng”; các game thủ hốt bạc nhanh hơn rất nhiều kiến trúc sư; còn tôi tìm được chỗ đứng trong một ngành mới nổi và thời thượng tên là “truyền thông”.

Và đột nhiên tôi nhận ra rằng, trong một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, thì không có ước mơ nào là hoang đường. Miễn là anh khao khát được tạo ra giá trị cho xã hội, thì anh sẽ được trao cơ hội tạo ra giá trị đó, và xã hội sẽ trả công để anh tồn tại.

Tại sao đã có thời rất nhiều ước mơ là hoang đường?

Đó không phải là định kiến văn hóa, mà cha mẹ chúng tôi đã căn cứ hoàn toàn vào thực tiễn. Khi bắt đầu hành trình rời Đại lộ Cử nhân làm thuê, tôi nhận ra rằng nền kinh tế, từ hành lang pháp lý cho đến tập quán kinh doanh, không hề ủng hộ cho một người mưu sinh bằng nghề viết. Không ai coi bản quyền ra gì - sách của tôi có đầy ở trên mạng chỉ trong một nốt nhạc. Tôi thử đi đòi bản quyền một lần, và bị đánh gục bởi một chuỗi tập quán kinh doanh tuyệt vọng. “Nó là trùm đầu nậu ở Hà Nội rồi Hoàng ạ, không ăn thua đâu”, người đi trước nói giọng chán chường. Tôi, và hầu hết các tác giả, thậm chí không bao giờ biết rằng chính công ty sách mình hợp tác có tự in thêm hay không. Còn lâu mới đến ngày viết sách mà sống được, như tác giả bên Tây.

Nếu Quỳnh rời khỏi Đại lộ Cử nhân làm thuê để mở trại gà của mình, cô cũng sẽ nhận được cả rổ thử thách từ một thị trường nông nghiệp rất đặc thù, nơi mà mẹ Quỳnh – như bao nông dân – chỉ có thể vay vốn sản xuất theo dạng “xóa đói giảm nghèo” chứ không phải là “làm giàu” (để vay vốn chỉ bằng một bản kế hoạch sản xuất nông nghiệp thì nhiều khả năng bạn phải có họ với chủ tịch ngân hàng).

Chúng tôi đã lớn lên trong một nền kinh tế, nơi không phải cứ tạo ra giá trị thì bạn sẽ có chỗ đứng. Nó chưa mở cửa cho mọi ước mơ. Bên ngoài Đại lộ Cử nhân làm thuê thực chất là một khu rừng chông gai nơi mà các giá trị có thể bị phủ nhận.

Có rất nhiều giấc mơ sẽ trở nên “hoang đường” cho dù nó hướng tới việc tạo ra giá trị thật. Nếu chẳng may nền kinh tế không đủ minh bạch cho thứ giá trị đó thì sao?

Thật kỳ lạ khi nghĩ rằng ngay cả những người bạn học của tôi, thực sự ước mơ trở thành kiến trúc sư và được ngồi đúng Đại học Kiến trúc, giờ cũng phải tiết chế ước mơ của mình. Nhiều người miễn cưỡng đi làm thuê cho một số công ty – vì chỉ có chính-công-ty-đó mới thắng thầu được những công trình lớn – để bạn tôi có thể được chủ trì và ký tên lên công trình lớn. Nếu không thích, họ cứ việc ra ngoài mà thiết kế nhà dân.

Và bố mẹ chúng tôi, bằng linh cảm của mình về khu rừng hiểm ác đó, chỉ tin vào con đường an toàn nhất. Họ nhường chiếc quạt duy nhất trong phòng trọ để mong con đậu đại học.

Trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta – những người Việt Nam sinh ra trong hòa bình - được khẳng định có quyền “mưu cầu hạnh phúc”.

Ai cũng có quyền mưu cầu hạnh phúc. Nhưng chúng ta đã chứng kiến hơn một thế hệ phải tiết chế, tự định nghĩa lại “mưu cầu hạnh phúc” thành con đường hẹp, vì nền kinh tế chưa lành mạnh. Đó chắc chắn không phải hoạt động “mưu cầu hạnh phúc” xứng đáng với những gì cha anh đã hy sinh và chiến đấu để giành lấy.

Một nền kinh tế lành mạnh là nơi mà không ước mơ nào là hoang đường. Đó không phải là một chuỗi các Đại lộ sự nghiệp khác nhau, mà là một vùng đồng bằng rộng lớn nơi ai cũng có thể dựng lên sân khấu của mình. Chỉ cần bạn tin rằng mình sẽ tạo ra được giá trị cho xã hội, bạn tự chọn chỗ đứng riêng và kiến tạo giá trị đó.

Trong nền kinh tế lý tưởng đó, các cơ hội cho mỗi thành phần là công bằng. Chúng được phân chia minh bạch và căn cứ vào lợi ích của cộng đồng. Và trong nền kinh tế lý tưởng đó, những bậc cha mẹ sẽ tự tin hỏi con, ước mơ của con sau này là gì? Đứa bé có thể trả lời rằng con muốn nuôi gà. Hay trở thành họa sĩ. Hoặc viết văn – mà được bảo vệ bản quyền.

Quỳnh đã trở về quê sau nhiều năm lăn lộn bất thành trên thành phố. Tôi chưa lên thăm lại cô lần nào kể từ ngày cô chia tay Hà Nội, và cũng không hỏi Quỳnh có nuôi gà không. Có thể cô đã nuôi một ước mơ khác. Tôi thỉnh thoảng hỏi thăm, và Quỳnh nói rằng “Em đang ổn”, vậy là tôi dừng lại.

Tôi chưa tự tin để hỏi rằng em đang theo đuổi điều gì. Vì biết đâu ước mơ mới của Quỳnh cũng sẽ lại làm tôi trăn trở về sự công bằng của các ước mơ.

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo