Chủ nhật, 16/5/2021 | 13:05 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Kết quả kinh doanh quý I/2021 Cuộc khủng hoảng nguồn cung chip toàn cầu ĐHĐCĐ 2021 "Sốt" đất trên cả nước Kế hoạch kinh doanh 2021
Thứ sáu, 12/6/2015, 10:07 (GMT+7)

Thị trường mới nổi: Động lực hay gánh nặng cho kinh tế toàn cầu?

Thứ sáu, 12/6/2015, 10:07 (GMT+7)

Các thị trường mới nổi (EM) đang có hoạt động tồi tệ nhất kể từ sau cuộc khủng khoảng 2008-2009. Nhu cầu của Trung Quốc đối với kim loại và nguồn tài nguyên khác đang suy giảm, kinh tế Brazil đang lâm vào suy thoái, Nga đang bị khủng hoảng và nhiều nước mới nổi khác đang phải vật lộn với tình trạng tăng trưởng chậm và thoái vốn.

Điều đáng lo ngại hiện nay là tình trạng trên có nguy cơ lan từ EM sang các nước phát triển khác. Sự bùng nổ của các nước đang phát triển khiến nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng trong hơn một thập kỷ qua, ngoại trừ những giai đoạn khủng hoảng. Nhưng các quốc gia này, đặc biệt là nhóm BRIC (gồm Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc), trước đây được coi là động lực tăng trưởng của thế giới, nhưng nay có nguy cơ trở thành gánh nặng của kinh tế toàn cầu.

Ngân hàng Thế giới (WB) vừa nhận định các nước đang phát triển đã tăng trưởng chậm lại trong khoảng 4 năm qua và mất dần vai trò thúc đẩy kinh tế toàn cầu vào tay các thị trường phát triển như Mỹ.

Chuyên gia kinh tế Adam Slater của Oxford Economics nhận định đà suy giảm của các nước mới nổi có thể khiến kinh tế thế giới rơi vào suy thoái. Nhóm các nước BRICS chiếm 1/5 tổng GDP toàn cầu nhưng 2 trong số các nước này đã rơi vào suy thoái, còn 1 quốc gia thì đang tăng chưởng chậm lại.

Giao dịch thương mại là một cơ chế lan truyền các yếu tố giữa những nền kinh tế, bao gồm Châu Âu và Mỹ. Tuy nhiên, phân tích của Oxford Economics cho thấy sự suy giảm trong nhu cầu nhập khẩu quý I/2015 đã biến các nước mới nổi từ yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thành gánh nặng, điều lần đầu tiên xảy ra kể từ năm 2009.

Ảnh hưởng từ các nền kinh tế mới nổi đến thế giới vô cùng rõ rệt. Theo Oxford Economics, 17 nước EM lớn nhất thế giới đã khiến thương mại toàn cầu giảm 0,9 điểm phần trăm trong quý I/2015. Con số này trái ngược với mức đóng góp 2,5 điểm phần trăm cho giao dịch thương mại bình quân trong giai đoạn 2000-2014. Số liệu này là khá nghiêm trọng khi thị phần giao dịch thương mại của 17 nước trên chiếm 43,3% toàn cầu.

Những số liệu kinh tế hiện nay cho thấy tăng trưởng giao dịch thương mại thế giới có thể tiếp tục chậm lại trong quý 2/2015. Xuất khẩu của Trung Quốc tháng 5/2015 đã giảm hơn 2,5% so với cùng kỳ năm trước, tháng giảm thứ 3 liên tiếp, trong khi nhập khẩu giảm 17,6% tính theo đồng USD. Hơn nữa, việc các nền kinh tế phát triển chỉ tăng trưởng trung bình càng thúc đẩy sự lo ngại đối với tình trạng trên.

Sau cuộc khủng hoảng năm 2009, các EM đã nhanh chóng hồi phục lên mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 6%, cao hơn mức tăng trưởng của các quốc gia phát triển là 2%. Tuy nhiên, động lực để các nước mới nổi tăng trưởng đang ngày càng yếu đi.

Theo UBS, tăng trưởng tại những EM đã suy giảm xuống mức bình quân 3,5% trong quý I/2015, mức thấp nhất kể từ sau cuộc khủng hoảng 2009. Nếu không tính phần đóng góp của Trung Quốc, tăng trưởng GDP bình quân của các nước mới nổi tính theo đồng USD có thể xuống gần mức 0% trong năm 2015.

Dòng vốn quốc tế hiện cũng đang hướng đến những thị trường an toàn hơn. Các dòng tiền đổ vào các EM thời kỳ lãi suất thấp sau khủng hoảng hiện nay đã suy giảm hoặc có chiều hướng đảo ngược. Theo NN Investment Partners, lượng thoái vốn khỏi các nước này trong 3 quý tính đến tháng 3/2015 đã cao hơn so với thời kỳ khủng hoảng tài chính 2008-2009. Trong tuần này, Viện Tài chính Quốc tế (IIF) cho biết trái phiếu của các thị trường mới nổi đã có tháng bán tháo lớn nhất kể từ sau năm 2013 (lúc đó thị trường bị ảnh hưởng do lo ngại Mỹ hạ quy mô của chương trình nới lỏng định lượng).

Các nền kinh tế phát triển bị ảnh hưởng

Nếu nền kinh tế các EM tiếp tục tăng tưởng chậm lại trong năm nay, các nước phát triển có thể bị ảnh hưởng sâu sắc.

Năm 1999, cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á đã khiến thị trường thế giới lâm vào suy thoái nghiên trọng, khi đó các nước phát triển không có ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế toàn cầu. Thị trường EM hiện nay chiếm hơn 52% GDP toàn cầu xét theo sức mua, cao hơn so với mức 38% thời kỳ khủng hoảng Châu Á năm 1999 (lúc đó Mỹ chỉ chiếm 24% GDP toàn cầu). Như vậy, rủi ro tại các EM hiện nay đã có sức ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đến nền kinh tế thế giới.

Sự đóng góp to lớn của các EM đến tăng trưởng kinh tế và thương mại cho thấy tầm quan trọng của những nước này đối với thế giới. Nhóm BRIC chiếm 15% giao dịch thương mại toàn cầu trong khoảng 2000-2014 và 23% cho tăng trưởng kinh tế thế giới. Do đó, sự suy giảm của những đóng góp này sẽ ảnh hưởng lớn đến kinh tế toàn cầu.

Ngoài ra, mối liên hệ tín dụng giữa các thị trường hiện nay có thể tạo ảnh hưởng lớn hơn so với cuộc khủng hoảng Châu Á năm 1999. Số liệu từ Hiệp hội các Ngân hàng Trung ương (BIS) cho thấy số các EM đã vay khoảng 6 nghìn tỷ USD tính đến cuối năm 2014, cao gấp đôi so với năm 1999.

Các nhà hoạch định chính sách đang ngày càng lo lắng đến tình hình này. Bộ trưởng Tài chính Hàn Quốc Choi Kyung-hwan cho rằng tăng trưởng toàn cầu chậm lại trong tình hình chính sách nới lỏng tiền tệ được sử dụng nhiều kỷ lục đang đặt ra thách thức cho kinh tế thế giới tương đương với cuộc khủng hoảng năm 2008.

Bộ trưởng Choi cũng chỉ trích các nền kinh tế hàng đầu thế giới chưa có đủ hành động cần thiết để kích thích tăng trưởng. Ông cũng cảnh báo rằng các thị trường phát triển sẽ chịu tổn thương một lần nữa từ những vấn đề tồn tại ở các EM.

Tuyên bố này của ông Choi được đưa ra khi Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu từ 3,7% xuống 3,1% cho năm 2015. Hàn Quốc cũng không tránh khỏi tình trạng tăng trưởng chậm trên thế giới. Xuất khẩu của quốc gia này tháng 5/2015 giảm 10,9% so với cùng kỳ năm ngoái và nhập khẩu giảm 15,3%.

Ngân hàng UBS cho rằng tình trạng suy giảm thương mại mới là mối đe dọa lớn nhất đối với các EM hiện nay chứ không phải khả năng tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Các nhà đầu tư hiện nay đang chú ý quá nhiều vào FED mà quên mất là nếu chính sách thắt chặt tiền tệ được áp dụng, các giao dịch thương mại sẽ yếu đi gây ảnh hưởng đến tăng trưởng tại các EM. Mặc dù Mỹ tăng lãi suất sẽ thúc đẩy xuất khẩu của các EM (do đồng USD tăng giá), nhưng song song với đó, các nước này sẽ gặp bất lợi về nhập khẩu những mặt hàng cần thiết như nguyên vật liệu, máy móc… Điều này sẽ tác động đến những ngành phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu.

Đa dạng hóa

Những quốc gia có tăng trưởng phụ thuộc vào sự bùng nổ kinh tế tại Trung Quốc và các khoản tín dụng chi phí thấp trên thế giới đang bị ảnh hưởng nặng nề.

Trong hơn 20 năm qua, cứ mỗi điểm phần trăm tăng trưởng GDP toàn cầu sẽ dẫn đến hơn 2% tăng trưởng bình quân trong giao dịch thương mại thế giới. Tuy nhiên, UBS dự đoán tỷ lệ này sẽ giảm xuống còn 1:1,3. Theo số liệu của ngân hàng UBS, không chỉ các nước xuất khẩu hàng hóa thô chịu ảnh hưởng, những nước xuất khẩu sản phẩm sản xuất cũng bị tổn thương.

Theo ngân hàng UBS, quan điểm cho rằng giao dịch thương mại giữa các EM là động lực cho tăng trưởng toàn cầu đã bị cường điệu hóa. Các chuỗi cung ứng trên thế giới đã quá tập trung vào thị trường Trung Quốc. Vì vậy khi kinh tế nước này có vấn đề, một loạt các quốc gia cũng gặp rắc rối theo. Nhiều nhà xuất khẩu hàng hóa đã cố gắng đa dạng hóa sản phẩm và thị trường, nhưng sự thay đổi không thể diễn ra trong ngắn hạn.

Chính điều này là một phần nguyên nhân thúc đẩy các quốc gia sử dụng chính sách tiền tệ và tài khó để điều chỉnh nền kinh tế. Brazil đang phải vật lộn với thâm hụt tài khóa bằng cách cắt giảm chi tiêu và tăng thuế, bất chấp việc nước này đang lâm vào suy thoái. Quốc gia này cũng đã tăng lãi suất để đối phó với tỷ lệ lạm phát và thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài.

Trong khi đó, Hungary và Thái Lan lại cắt giảm lãi suất trước nguy cơ giảm phát. Tuy nhiên, tình hình có thể không khả quan nếu FED nâng lãi suất, khiến đồng tiền các nước này mất giá và gia tăng nguy cơ thoái vốn.

Việc FED nâng lãi suất có thể gây tổn thương cho một số EM, đặc biệt là những nước có tỷ lệ tín dụng bằng đồng USD cao. Tuy nhiên, một số chuyên gia phân tích cho rằng ảnh hưởng này có thể không quá lớn.

Ngân hàng UBS cho rằng việc Mỹ có lãi suất thấp, kinh tế Trung Quốc bùng nổ và quá trình toàn cầu hóa đã khiến các EM hưởng lợi trong thời gian qua. Nhưng khi những yếu tố này đảo chiều, rất khó để xác định động lực nào sẽ thúc đẩy tăng trưởng cho các quốc gia này cũng như nền kinh tế toàn cầu.

Hoàng Nam - Người đồng hành

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo