Thứ tư, 23/10/2019 | 08:20 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Kết quả kinh doanh quý III/2019 Cú lao dốc của FTM Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Chứng quyền có bảo đảm Cổ phần hóa 93 doanh nghiệp Nhà nước
Thứ ba, 15/12/2015, 08:44 (GMT+7)

Nông nghiệp công nghệ cao: Không chỉ có màu hồng!

Thứ ba, 15/12/2015, 08:44 (GMT+7)

Phóng viên có dịp trò chuyện với ông Nguyễn Duy Hưng – Chủ tịch HĐQT Công ty CP Tập đoàn PAN về chủ đề này.

Thời gian gần đây, NNCNC trở thành chủ đề được rất nhiều người quan tâm tại Việt Nam. Ông có thể giải thích lý do vì sao?

NNCNC gần đây được nhiều người nhắc đến, quan tâm đặc biệt sau khi Việt Nam tham gia Hiệp định TPP. Việc tham gia TPP được đánh giá là mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng tạo ra nhiều thách thức, nhất là với ngành Nông nghiệp. Nông nghiệp Việt Nam hiện nay nhìn chung vẫn sử dụng phương pháp sản xuất truyền thống, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên với năng suất, chất lượng sản phẩm thấp, không ổn định.

NNCNC sau khi được áp dụng thử nghiệm ở một số địa phương như Đà Lạt đã chứng minh sự vượt trội, mang lại thu nhập cao hơn rất nhiều cho người nông dân, tạo động lực cho xu hướng nghiên cứu và áp dụng ở quy mô lớn hơn trên phạm vi toàn quốc. Gần đây, lãnh đạo nhiều tỉnh cũng trực tiếp kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực NNCNC với những cam kết cụ thể, rõ ràng, tạo hiệu ứng tích cực.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các nước đi trước có rất nhiều điểm cần chú ý trước khi áp dụng NNCNC trên quy mô lớn. Làm NNCNC trên thực tế không dễ.

Tại sao làm NNCNC không dễ? Theo Ông, NNCNC sẽ thay đổi ngành Nông nghiệp Việt Nam như thế nào trong vòng 10-20 năm tới?

NNCNC có rất nhiều ưu việt, nhưng tất cả đều có những điểm cần lưu ý. NNCNC không nên làm theo phong trào mà nên có chiến lược dài hạn.

Trước hết là yêu cầu lớn về vốn đầu tư so với phương pháp truyền thống. Một số dự án đầu tư NNCNC có thể yêu cầu vốn đầu tư cao gấp hàng trăm lần. Tỷ suất đầu tư cao có nghĩa là áp lực lớn đối với hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Tại Nhật Bản, mô hình sản xuất nông nghiệp theo phương pháp truyền thống cách đây 30 năm nếu được quản lý tốt vẫn là phương pháp mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn đối với một số dòng sản phẩm và với nhiều doanh nghiệp so với các phương pháp hiện đại tiên tiến nhất.

Thứ hai là yêu cầu hiểu biết rất cao về kỹ thuật canh tác. NNCNC không chỉ bao gồm một hệ thống máy móc, công nghệ, phần mềm hiện đại mà phía sau đó quan trọng nhất vẫn là các bí quyết công nghệ. Minh chứng là nhiều giống cây nhập về từ Nhật Bản, Israel trồng trong điều kiện tốt nhất tại Việt Nam với khí hậu tốt hơn nhưng năng suất cũng chỉ đạt 30% - 40%, chất lượng chưa đạt yêu cầu xuất khẩu. Các bí quyết sản xuất này không đơn giản có thể học hay chuyển giao trong ngày một ngày hai mà là một sự tích lũy kinh nghiệm thậm chí qua 2-3 thế hệ trong gia đình.

Thứ ba là thách thức về mặt thị trường tiêu thụ. NNCNC nếu thành công sẽ mang lại những bước nhảy vọt về năng suất, có thể gấp 20-30 lần so với các phương pháp truyền thống. Như vậy, nếu giữ cùng 1 quy mô thì đơn vị sản xuất phải tính toán thị trường đầu ra phù hợp. Thông thường, khi áp dụng NNCNC thì giá thành sản xuất sẽ cao hơn (tất nhiên là chất lượng sản phẩm cũng cao hơn) nên nhà sản xuất cũng cần quan tâm đến khả năng chấp nhận của người tiêu dùng – vốn thường mất khá nhiều thời gian để thích ứng. Một trong những lý do NNCNC rất phổ biến tại các nước phát triển không chỉ nằm ở khả năng về công nghệ mà còn do mặt bằng thu nhập của người tiêu dùng cao hơn, có thể chấp nhận mức giá cao hơn để có những sản phẩm chất lượng, an toàn.

Thứ tư là khả năng kiểm soát chất lượng sản xuất và tính kỷ luật của người lao động. NNCNC sẽ tạo ra một cuộc cách mạng công nhân hóa tầng lớp nông dân. NNCNC yêu cầu ít công nhân hơn nhưng đòi hỏi trình độ tay nghề cũng cao hơn rất nhiều. Đây là thách thức đối với các nước như Việt Nam khi công nhân vẫn quen với các phương pháp truyền thống, không sử dụng công nghệ thành thạo, và hạn chế về tính kỷ luật trong việc tổ chức sản xuất, sử dụng hóa chất, quan tâm đến lợi nhuận ngắn hạn. Đây sẽ là rào cản kỹ thuật lớn nhất khi triển khai các ứng dụng tiên tiến. Các nhà sản xuất có thể nhận chuyển nhượng được phần cứng dễ dàng nhưng sẽ gặp nhiều vấn đề với việc vận hành các công nghệ kỹ thuật đó.

Đồng thời, NNCNC đi kèm với rủi ro rất nhiều nông dân mất việc, đặc biệt là các hộ nông dân không có vốn đầu tư NNCNC. Ví dụ Nhật Bản với chưa tới 5% dân số tham gia sản xuất nông nghiệp nhưng cơ bản đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và thậm chí còn đang xuất khẩu. Như vậy, cơ cấu nền kinh tế cần phải tính toán đến vấn đề này.

NNCNC có xử lý được triệt để các vấn đề của ngành Nông nghiệp Việt Nam?

Hiện nay, 2 vấn đề rất lớn của ngành Nông nghiệp Việt Nam là (i) niềm tin của người tiêu dùng vào vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, khả năng truy xuất nguồn gốc, sử dụng thuốc bảo quản thực vật, chất cấm, và (ii) thị trường tiêu thụ. Một số doanh nghiệp đang sử dụng phương pháp truyền thống vẫn sản xuất được các sản phẩm có chất lượng, an toàn, thậm chí xuất khẩu. NNCNC sẽ hỗ trợ nhiều vấn đề năng suất, chất lượng và sự ổn định của sản phẩm nhưng không giải quyết được triệt để vấn đề các vấn đề mà xã hội đang đặc biệt quan tâm.

Vậy theo ông nên hiểu NNCNC như thế nào cho đúng và Việt Nam nên chuẩn bị để đón nhận xu hướng NNCNC như thế nào là phù hợp nhất?

Nên hiểu NNCNC là một lựa chọn, không phải là một chìa khóa vạn năng có thể thay thế hoàn hảo các phương pháp truyền thống, do đó, theo tôi trước khi tổ chức ở quy mô lớn cần có sự thử nghiệm, lựa chọn đúng đắn, kết hợp những tinh túy, kinh nghiệm của các phương pháp truyền thống bên cạnh ứng dụng về mặt công nghệ cao để có các sản phẩm phù hợp với văn hóa tiêu dùng và nhu cầu của thị trường địa phương.

Việc lựa chọn cấp độ ứng dụng NNCNC không nên đơn thuần chỉ là bê nguyên một mô hình ở đâu đó về Việt Nam mà cần xem xét tính toán, gắn liền với văn hóa, tập quán sản xuất của địa phương đã duy trì từ trước đến nay. Mô hình được lựa chọn cần có sự phù hợp về mặt sản phẩm (màu sắc, kích cỡ, mùi vị) và khả năng quản trị của doanh nghiệp/gia đình/cá nhân.

NNCNC thông thường là một phần gắn liền của một chuỗi giá trị khép kín. Khi đầu tư NNCNC vào một khâu thì cần có sự tính toán, quy hoạch đầy đủ các yếu tố khác. Ví dụ, với các sản phẩm rau củ quả, khi áp dụng NNCNC vào sản xuất để nâng cao năng suất và chất lượng thì cần tính toán cả phần hạt giống, bảo quản, chế biến sau thu hoạch, vận chuyển và các kênh bán hàng. Các mắt xích này cũng cần các công nghệ mới phù hợp. Nếu không có sự tính toán tỉ mỉ thì sẽ rơi vào tình trạng “đầu voi, đuôi chuột”. Một số mắt xích thậm chí cần sự quy hoạch của Nhà nước ví dụ cơ sở hạ tầng hỗ trợ đi kèm với các vùng sản xuất lớn.

Một yếu tố nữa cần chú ý đó là để có thể áp dụng thành công và triệt để NNCNC – vốn yêu cầu vốn đầu tư ban đầu lớn, nguồn lực chuyên gia hỗ trợ - cần có các chính sách quyết liệt, nhất quán từ Chính phủ để có thể tạo động lực cho các doanh nghiệp dám đầu tư bài bản vào NNCNC, góp phần thay đổi từ gốc cho nền sản xuất Nông nghiệp trong nước thay vì đầu tư chắp vá, mang tính thăm dò.

Sự hỗ trợ này đến từ việc miễn giảm các loại thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, các chính sách vay vốn ưu đãi, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là đối với hàng hóa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, quy hoạch các khu NNCNC, miễn tiền thuê đất, … để giảm bớt áp lực về chi phí đầu tư ban đầu, góp phần giảm bớt chi phí sản xuất, nhanh chóng “phổ thông hóa” các sản phẩm này ngay tại thị trường trong nước, giúp người dân tiếp cận được các sản phẩm sạch, chất lượng cao, xử lý tận gốc vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm của Việt Nam hiện nay.

Nguyễn Hùng

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo