Chủ nhật, 23/1/2022 | 00:47 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Nhìn lại 2021 Kết quả kinh doanh quý IV/2021 Cuộc khủng hoảng thanh khoản tại Evergrande Lạm phát - mối lo mới của thị trường thế giới
Chủ nhật, 14/8/2011, 20:40 (GMT+7)

Nợ nước ngoài đến năm 2010: Phía sau con số 32,5 tỷ USD

Chủ nhật, 14/8/2011, 20:40 (GMT+7)


Nợ Chính phủ và nợ được Chính phủ bảo lãnh qua các năm. Nguồn: Bộ Tài chính, NDHMoney

>> Hậu họa nợ công và bài học từ “lưỡi dao” S&P!

Bộ Tài chính vừa công bố bản tin nợ nước ngoài số 7. Theo quy định, dữ liệu về nợ nước ngoài của Chính phủ và do Chính phủ bảo lãnh có niên độ báo cáo 6 tháng một lần và ở lần phát hành này, kỳ chốt số liệu là cuối năm 2010.

Không bằng mức tăng “khủng” của 2009 (trên 6 tỷ USD), trong năm 2010, nợ nước ngoài của Việt Nam, bao gồm cả nợ Chính phủ trung ương và địa phương, nợ được Chính phủ bảo lãnh, đã tăng thêm gần 4,6 tỷ USD, đứng thứ hai về mức tăng dư nợ trong khoảng 5 năm gần đây, đưa tổng dư nợ đến cuối năm này lên 32,5 tỷ USD.

Nhìn lại 5 năm gần đây, khối nợ nước ngoài đang tăng lên rất nhanh để bù đắp bội chi ngân sách, cùng giai đoạn này liên tục vượt 5% GDP. Nếu như cuối năm 2006, tổng dư nợ nước ngoài của Chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh mới khoảng 15,64 tỷ USD, thì số liệu công bố đến thời điểm này đã gấp 2 lần.

Trong mấy năm nợ nước ngoài “nước rút” tiến đến các mức trần an toàn, nhiều chỉ tiêu giám sát nợ nước ngoài cũng thay đổi chóng mặt. Ở chỉ tiêu quan trọng nhất, tổng dư nợ nước ngoài so với GDP đã tăng lên 42,2% vào cuối năm 2010, từ mức 39% của năm trước đó; nợ nước ngoài khu vực công so với GDP đã là 31,1%, từ tỷ lệ 29,3%.

Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam là niềm mơ ước của nhiều quốc gia trên thế giới, ngay cả khi chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng tài chính toàn cầu thì mức tăng về giá trị gia tăng của nền kinh tế mấy năm gần đây vẫn duy trì ở mức trên 6%.

Nhưng, tốc độ tăng nợ nước ngoài so với chỉ tiêu này liên tục tăng mạnh trong khoảng 5 năm trở lại đây, cho thấy “chi phí” để bù đắp bội chi, hỗ trợ tăng trưởng của nền kinh tế, hay ở khía cạnh khác là giúp cân bằng lại cán cân thanh toán, giảm áp lực lên tỷ giá, dường như ngày càng “đắt” hơn.

Cùng phía các chỉ tiêu kém đi, tỷ lệ giữa dự trữ ngoại hối so với dư nợ ngắn hạn đến cuối năm 2010 chỉ còn đạt 187%, cách biệt xa so với chỉ tiêu này của năm 2007, ở mức 10.177%.

Diễn biến này đi cùng sự bào mòn dự trữ ngoại hối mấy năm gần đây, do thâm hụt cán cân thanh toán diễn ra triền miên với mức độ đáng lo ngại, mất đi khoảng gần một nửa trong giai đoạn 2009-2010.

Tương tự, tỷ lệ nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ so với thu ngân sách cũng tăng lên 5,8%, mức cao nhất trong chuỗi số liệu kể từ năm 2006, cho thấy gánh nặng nợ nần ngày càng lớn hơn, trong bối cảnh tăng trưởng và sản xuất không mấy dễ dàng.

Trong khi đó, một vài chỉ tiêu có dấu hiệu tốt lên, ví dụ như nghĩa vụ trả nợ trung và dài hạn so với xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ bằng 3,4%, thấp hơn rất nhiều so với mức 4,2% của năm 2009.

Diễn biến này đi cùng sự phục hồi của hoạt động xuất khẩu trong năm, với mức tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa vượt 26,4% so với năm 2009, là năm xuất khẩu rất khó khăn và tốc độ tăng trưởng kim ngạch giảm gần 9%.

Cũng theo bản tin số 7, không kể nợ nước ngoài do Chính phủ bảo lãnh, đa số các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ có lãi suất thấp, khoảng 84% tổng nợ tương ứng với trên 21,85 tỷ USD có lãi suất dưới 3%.

Ngoài ra, lãi suất từ 3% đến dưới 6% có khoảng 2,15 tỷ USD dư nợ; lãi suất từ 6-10% là 1,89 tỷ USD; lãi suất thả nổi theo LIBOR 6 tháng và Euro LIBOR 6 tháng là 1,96 tỷ USD…

Tuy nhiên, dư nợ ở các mức lãi suất cao đang tăng rất nhanh. Tổng dư nợ nước ngoài có lãi suất từ 3% đến dưới 6% luôn ở quanh mức 1,5 tỷ USD trong suốt giai đoạn từ 2006-2009, đến năm 2010 đột ngột tăng lên mức trên 2,15 tỷ USD; dư nợ lãi suất từ 6-10% cũng đã tăng gấp khoảng hai lần trong năm 2010, đạt gần 1,9 tỷ USD từ mức khoảng 920 triệu USD của năm trước.

Chủ nợ của Việt Nam đã đa dạng hơn trong năm 2010, với nợ Chính phủ, chủ nợ song phương có 15 quốc gia; chủ nợ đa phương có 8 tổ chức. Ngoài ra còn có các ngân hàng thương mại và người nắm giữ chứng khoán, do Việt Nam đã phát hành 1 tỷ USD trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ trong năm 2010.

Tuy nhiên, cơ cấu dư nợ nước ngoài Chính phủ theo loại tiền còn khá tập trung, chủ yếu là 4 đồng tiền, bao gồm Yên Nhật, SDR (quyền rút vốn đặc biệt - đơn vị tiền tệ quy ước của Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF), USD và EUR, lần lượt chiếm tỷ trọng là 38,8%, gần 27,1%, 22,2% và 9,2%.

Điều này cũng cảnh báo rằng, với mức lạm phát rất cao trong mấy năm gần đây, rủi ro tỷ giá đã và sẽ là vấn đề lớn với Việt Nam. Thêm nữa, với khối nợ đang lớn lên nhanh, khả năng can thiệp của dự trữ ngoại hối còn hạn chế, thì chính sách tỷ giá rất khó để có dư địa điều chỉnh linh hoạt.

Cũng theo bản tin số 7, tổng trả nợ trong kỳ của Việt Nam năm 2010 là trên 1,672 tỷ USD (năm 2009 là 1,29 tỷ USD), trong đó riêng trả nợ lãi và phí là 616 triệu USD.

Như vậy, tỷ lệ trả nợ nước ngoài của Việt Nam năm 2010 so với tổng thu ngân sách cùng năm (so với 559,17 nghìn tỷ đồng được Bộ Tài chính công bố ngày 1/4/2011) vào khoảng 5,5%. So với tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, mức bình thường là từ 12% trở xuống, nghĩa vụ trả nợ vẫn trong ngưỡng an toàn.

Nhưng ở góc nhìn khác, mức tăng nhanh nghĩa vụ trả nợ như hiện nay sẽ giới hạn khả năng Chính phủ có thể giảm mức huy động vào ngân sách từ doanh nghiệp và người dân, hiện được cho là đang ở mức khá cao (6 tháng đầu năm 2011 ước tính vào khoảng 28% GDP).

Bình Minh - NDH

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo