Thứ hai, 17/5/2021 | 16:41 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Kết quả kinh doanh quý I/2021 Cuộc khủng hoảng nguồn cung chip toàn cầu ĐHĐCĐ 2021 "Sốt" đất trên cả nước Kế hoạch kinh doanh 2021
Thứ bảy, 10/10/2015, 14:05 (GMT+7)

Nguồn vốn đầu tư vào nông nghiệp quá thấp

Thứ bảy, 10/10/2015, 14:05 (GMT+7)

Rà soát các quy định về đầu tư

Thực hiện rà soát các quy định về đầu tư để khuyến khích các DN thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư vào NN-NT đã giúp khu vực NN phát triển với nhịp độ khá cao. Kết cấu hạ tầng được tăng cường, nhất là thuỷ lợi, giao thông, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng CNH, HĐH. Nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp cho Chương trình là 61.029 tỷ đồng, chiếm 10,32%. Trong vốn NSNN hỗ trợ trực tiếp cho Chương trình thì NSTW là 10.175 tỷ đồng, NSĐP các cấp là 50.854 tỷ đồng. Vốn tín dụng chiếm 48,4%; vốn huy động từ DN chiếm 5,4%.

Cùng với vốn đầu tư từ NSNN và TPCP, vốn tín dụng cho khu vực NN-NT cũng luôn duy trì được tăng với tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng chung cho nền kinh tế, bình quân đạt 21%/năm. Tổng dư nợ năm 2014 ước đạt gần 760 nghìn tỷ đồng. Tín dụng đầu tư và tín dụng ưu đãi qua kênh Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB) và Ngân hàng chính sách xã hội (VBSP) được mở rộng. Tính đến cuối năm 2014, VDB đã thực hiện cho vay ưu đãi đối với lĩnh vực NN-NT khoảng gần 3 nghìn tỷ đồng; tổng dư nợ của VBSP đạt 129.457 tỷ đồng. Việc thực hiện các chính sách nói trên đã góp phần thúc đẩy, thu hút các nguồn vốn đầu tư vào khu vực nông nghiệp nông thôn, đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo chủ trương của Đảng và Nhà nước và bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng.

Tỷ trọng vốn đầu tư vào NN đang giảm

Tuy nhiên, trên thực tế, tốc độ tăng trưởng của nông lâm ngư nghiệp tiếp tục có xu hướng chậm lại. NN vẫn chủ yếu phát triển theo chiều rộng, chưa bền vững. Chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh của nhiều loại sản phẩm còn thấp. Thu nhập và đời sống của dân cư nông thôn còn thấp… Trong đó, đáng lưu ý là tỷ trọng vốn đầu tư cho ngành NN đang có xu hướng giảm, nguồn vốn FDI chưa tương xứng với tiềm năng cũng như thế mạnh phát triển NN của Việt Nam. Trong khi tỷ trọng đóng góp vào GDP của ngành NN bình quân trên 17%, nhưng tổng vốn đầu tư cho ngành đang giảm dần về tỷ trọng trong tổng mức đầu tư toàn xã hội.

Về đầu tư trực tiếp nước ngoài, so với hoạt động FDI trong các lĩnh vực khác, hiệu quả thực hiện các dự án trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp còn rất hạn chế, còn thấp, thiếu ổn định và có xu hướng giảm. Năm 2011, vốn FDI vào NN là 130,7 triệu USD, năm 2012 còn 99,35 triệu USD và năm 2013 giảm tiếp xuống 86,73 triệu USD, chủ yếu là do ngành NN thường tiềm ẩn rủi ro từ nhiều phía (điều kiện tự nhiên, thị trường, lãi suất thấp, thu hồi vốn chậm vì phải theo chu kỳ cây trồng - vật nuôi...) nên khó thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực này. Ngoài ra, công nghệ kỹ thuật canh tác, thu hoạch, xử lý sau thu hoạch vẫn chưa được nâng cấp, hiện còn rất thô sơ; vấn đề tàu cá, bảo quản sau đánh bắt cũng như việc chưa chủ động được trước diễn biến thời tiết ở nhóm cây lương thực cũng ảnh hưởng đến ngành thủy sản và trồng trọt.

Công tác quản lý chất lượng vật tư đầu vào cho sản xuất đang còn nhiều bất cập về vệ sinh an toàn thực phẩm. Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, môi trường nông thôn ngày càng bị ô nhiễm,…

Nguồn lực đầu tư hạn chế

Trong thời gian qua, thể chế và các công cụ của chính sách tài chính bao gồm: Đầu tư công từ nguồn NSNN, chính sách thuế, tín dụng, bảo hiểm và hỗ trợ tài chính… đã được các bộ, ngành phối hợp áp dụng chặt chẽ và tương tác lẫn nhau cùng thúc đẩy sự phát triển của NN-NT. Mặc dù các chính sách này đã phát huy hiệu quả nhưng cũng còn một số tồn tại.

Thứ nhất, nguồn lực đầu tư cho NN-NT còn hạn chế, hiện mới đáp ứng 55 - 60% nhu cầu. Vốn FDI vào NN-NT còn thấp và có xu hướng giảm dần. Chính sách huy động các nguồn lực cho NN cũng cho thấy một số hạn chế như chưa có hướng dẫn về cơ chế lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình, dự án; định mức phân bổ ngân sách hàng năm cho các địa phương thấp do những bất cập về tiêu chí, mức phân bổ và phương pháp xác định; ưu tiên phân bổ từ NSTW cho Chương trình còn thấp và có xu hướng giảm từ 9,4% năm 2011 xuống còn 1,7% năm 2014; nguồn huy động từ xã hội hóa đối với Chương trình chưa cao.

Thứ hai, chính sách miễn, giảm thuế sử dụng cho đất NN mang tính tích cực, nhưng ở khía cạnh khác chính sách này vẫn chưa gắn chặt trách nhiệm của nông dân với xã hội về chất lượng sản phẩm hàng hóa. Ví dụ như, chính sách miễn, giảm thủy lợi phí còn thiếu chế tài trong quản lý, tạo ra tâm lý ỷ lại trong nông dân; chính sách ưu đãi thuế TNDN (Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Luật về thuế) chưa bao quát hết các đối tượng như sản xuất máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất NN, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp; sản xuất thiết bị tưới tiêu; sản xuất tinh chế thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản,… là những đầu vào quan trọng cho phát triển NN-NT.

Bài 3: Tăng hợp lý tỷ trọng vốn đầu tư của NSNN

Mỹ Hà

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo