Chủ nhật, 9/5/2021 | 09:26 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Kết quả kinh doanh quý I/2021 Cuộc khủng hoảng nguồn cung chip toàn cầu ĐHĐCĐ 2021 "Sốt" đất trên cả nước Kế hoạch kinh doanh 2021
Thứ hai, 23/11/2015, 15:43 (GMT+7)

Mỗi năm mất 780 triệu USD cho chăm sóc sức khỏe vì ô nhiễm

Dang Hai Yen Thứ hai, 23/11/2015, 15:43 (GMT+7)

Theo tiến sỹ kinh tế Vũ Tuấn Anh, Viện Kinh tế Việt Nam phân tích, nhu cầu năng lượng đã tăng gần gấp đôi, từ 26,3 triệu tấn dầu quy đổi lên 46,8 triệu tấn dầu quy đổi trong giai đoạn 2000-2009. Tương ứng là nhu cầu năng lượng thương mại tăng gần gấp 3 lần, từ 12,09 triệu tấn dầu qui đổi lên 32 triệu tấn, với tỷ lệ tăng trưởng hằng năm đạt 11,5%.

Ba ngành tiêu thụ nhiều năng lượng là: công nghiệp, giao thông và thương mại dịch vụ, trong đó công nghiệp tiêu thụ nhiều nhất, chiếm khoảng trên 40% tổng tiêu thụ năng lượng hàng năm.

Một số ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng như thép, xi măng phát triển nhanh, vượt quá quy mô mà quy hoạch dài hạn đã phê duyệt, hậu quả là làm mất cân đối cán cân năng lượng quốc gia.

Tiến sỹ Tuấn Anh cho biết: Cường độ năng lượng của Việt Nam có xu hướng tăng do quá trình tăng cường công nghiệp hóa, từ 350 kg dầu quy chuẩn (OE) cho 1000 USD GDP năm 1990; lên 487kg năm 2000 và khoảng 955 kg năm 2007, cao hơn rất nhiều so với các nước phát triển.

Hiện tại, cường độ năng lượng Việt Nam gấp 1,5 lần Thái Lan và gấp 2 lần mức bình quân thế giới 10. Đa số các ngành công nghiệp là những ngành thuộc loại có cường độ năng lượng cao.

Ô nhiễm gia tăng, yêu cầu sử dụng năng lượng hiệu quả

Kèm theo câu chuyện năng lượng là những nghịch lý, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với những vấn đề tương tự do gia tăng lượng chất thải và ô nhiễm trong công nghiệp. Theo dự báo của Ngân hàng thế giới, với mức tăng GDP khoảng 7-8%/năm như hiện nay, thì mức độ ô nhiễm môi trường bởi chất thải vào năm 2020 có thể gấp 4-5 lần hiện nay.

Đặc biệt, tính chất của chất thải rắn công nghiệp cũng sẽ thay đổi theo hướng tăng dần tỷ lệ chất thải nguy hại do phát triển thêm nhiều ngành công nghiệp mới, như hóa chất, điện tử, lọc hóa dầu, dệt nhuộm…

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể phải chịu tổn thất do ô nhiễm môi trường lên tới 5,5% GDP hàng năm. Riêng trong lĩnh vực sức khỏe cộng đồng vì ô nhiễm môi trường, ước tính mỗi năm Việt Nam thiệt hại khoảng 780 triệu USD.

Như vậy, nếu tính cho năm 2013, ước tính nền kinh tế mất khoảng 9,4 tỉ USD trong tổng số 171 tỉ USD GDP do ô nhiễm, suy thoái môi trường.

Tổng mức phát thải khí nhà kính của Việt Nam năm 2000 là 150,9 triệu tấn khí CO2 tương đương; tính trên GDP là 4,84 tấn / 1000 USD. Mức phát thải tính trên đầu người của Việt Nam còn rất thấp so với các nước phát triển, nhưng đã tăng lên 39 nhanh chóng trong thời gian qua, từ 0,3 tấn năm 1990 tăng tới 1,3 tấn năm 2007.

Đến năm 2010, các ngành chính có phát thải cao bao gồm nông nghiệp (chiếm 38,8% tổng lượng phát thải), năng lượng (66,8%). Lĩnh vực năng lượng phát thải tới gần 70% tổng lượng CO2 của cả nước. Dự báo đến năm 2030, lĩnh vực này phát thải tới 470,8 triệu tấn CO2 tương đương (CO2e), chiếm 91,3% tổng lượng phát thải CO2e.

Theo Tiến sỹ kinh tế Vũ Tuấn Anh, Việt Nam chưa phải là nước phải bắt buộc giảm tổng lượng phát thải khí nhà kính, nhưng với tốc độ gia tăng nhanh chóng lượng phát thải, yêu cầu sử dụng năng lượng hiệu quả, thay đổi cơ cấu kinh tế và đổi mới công nghệ đã cần phải đặt ra trong những năm trước mắt.

Hải Minh

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo