Thứ sáu, 27/5/2022 | 23:23 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Ngày ấy - Bây giờ Bí mật đồng tiền Căng thẳng Nga - Ukraine ĐHĐCĐ 2022 Kết quả kinh doanh quý I/2022
Thứ năm, 3/2/2022, 08:00 (GMT+7)

Kinh tế trưởng WB: Việt Nam sẽ quay lại quỹ đạo tăng trưởng trước dịch

Ngọc Hà Thứ năm, 3/2/2022, 08:00 (GMT+7)

Bước sang năm 2022, chuyên gia kinh tế trưởng WB Jacques Morisse cho rằng Việt Nam có thể quay lại quỹ đạo tăng trưởng trước dịch Covid-19 nếu bản thân nền kinh tế trong nước cũng như thế giới không phải trải qua bất kỳ làn sóng dịch nào tương tự như biến chủng Delta.

Chuyên gia kinh tế trưởng WB Jacques Morisse.

Chuyên gia kinh tế trưởng WB Jacques Morisse.

- Ông nhìn nhận như thế nào về những thay đổi của nền kinh tế Việt Nam năm qua dưới tác động của dịch Covid-19?

- Có thể nói 2021 là một năm đầy khó khăn đối với Việt Nam. GDP năm nay của các quốc gia trên thế giới đều được dự báo tăng trưởng trung bình 5-6%. Trong khi đó GDP Việt Nam chỉ tăng trưởng khoảng 2%. Nếu là những năm trước đây tình thế sẽ ngược lại, thế giới sẽ chỉ tăng trưởng 2% trong khi Việt Nam tăng trưởng đến 6-7%. Kết quả này cho thấy rõ ràng 2021 là một năm sóng gió đối với Việt Nam.

- Nhìn lại năm 2021, theo ông khu vực nào đã hỗ trợ tích cực nhất cho nền kinh tế và khu vực nào bị ảnh hưởng nhiều nhất?

- Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta có thể chia năm 2021 thành ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là từ tháng 1 tới tháng 4 khi kinh tế vẫn trong giai đoạn hồi phục từ 2020, tình hình Covid-19 được kiếm soát tốt, kinh tế lưu thông. Trong giai đoạn này hoạt động sản xuất hoạt động sôi nổi, các cửa hàng được mở cửa và tín hiệu tích cực tăng dần qua thời gian. Bởi vậy trong quý I, kinh tế Việt Nam vẫn đang phát triển tốt, GDP tăng khoảng 5%. Tất nhiên chưa thể quay về mức 6-7% như thời kỳ trước đại dịch nhưng mức 5-5,5% đã là một con số rất ấn tượng.

Giai đoạn thứ hai, khi làn sóng đại dịch Covid-19 thứ tư ập đến vào cuối tháng 4, nền kinh tế phải đóng cửa từ đó cho tới cuối tháng 9. Kết quả là GDP giảm sâu (6,02%), đặc biệt khu vực dịch vụ ghi nhận mức sụt giảm nghiêm trọng nhất, vì những cửa hàng lại phải đóng cửa, người dân bị hạn chế đi lại, giao thông bị ảnh hưởng, trường học cũng phải đóng cửa. Tất nhiên một số ngành đặc biệt như truyền thông vẫn tiếp tục phát triển nhưng nhìn một cách tổng thể khu vực dịch vụ bị ảnh hưởng nặng nề.

Trên thực tế, rất nhiều khu công nghiệp phía Nam cũng bị ảnh hưởng bởi dịch, nhiều nơi phải đóng cửa hoặc không thể hoạt động hết công suất, bởi vậy lĩnh vực sản xuất cũng sụt giảm mạnh trong quý III này.

Giai đoạn thứ ba là từ cuối tháng 9 cho tới giữa tháng 12, nền kinh tế bắt đầu ghi nhận một số tín hiệu phục hồi nhưng tốc độ phục hồi không đồng đều. Có thể thấy những ngành cung cấp và ngành sản xuất tăng trưởng nhanh đến bất ngờ.

Ví dụ trong tháng 11 lĩnh vực sản xuất tăng trưởng ở mức cao hơn cùng kỳ năm 2020, xuất khẩu cũng tương tự. Như vậy, một mặt phía cung đang hồi phục nhưng mặt khác chúng ta cũng ghi nhận một thực trạng rằng phía cầu, lĩnh vực bán lẻ và nhu cầu về dịch vụ đang ở mức rất thấp. Cụ thể trong tháng 11, nhu cầu về các mặt hàng bán lẻ thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm ngoái. Bởi vậy có thể nói rằng nền kinh tế đang dần hồi phục nhưng không đồng đều.

- Như vậy liệu có thể coi Việt Nam đang bước vào giai đoạn phục hồi, những yếu tố nào hỗ trợ cho sự hồi phục này?

- Câu trả lời là phụ thuộc vào tình hình dịch Covid-19. Trường hợp kiểm soát tốt đại dịch, Việt Nam sẽ tiếp tục tiến trình phục hồi kinh tế. Đó là yếu tố tiên quyết. Chính phủ Việt Nam đang làm hết sức có thể và đang làm rất tốt với tỷ lệ tiêm vaccine Covid-19 tăng nhanh trong những tháng vừa qua. Thậm chí có những giai đoạn Việt Nam đạt tốc độ tiêm vaccine lên tới hơn 1 triệu liều/ngày, có thể coi là kỷ lục thế giới về tốc độ tiêm chủng.

Nhưng chúng ta cũng khó có thể kiểm soát được hoàn toàn. Các quốc gia trên thế giới đều bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 và tới đây là các biến thể mới, bởi vậy bước đầu tiên là cần làm tất cả những gì có thể để kiểm soát đại dịch.

Yếu tố thứ hai là vấn đề tôi đã nêu ở trên về câu chuyện cung - cầu. Theo tôi Chính phủ Việt Nam đã triển khai rất hiệu quả việc khôi phục các khu vực sản xuất, tất nhiên không phải toàn bộ công nhân đã quay lại nhà máy và vẫn còn những hạn chế trên thị trường lao động nhưng có thể thấy khả năng khôi phục ấn tượng của Việt Nam.

Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu và sản xuất đang tăng trưởng mạnh mẽ trở lại, thậm chí còn mạnh mẽ hơn cả 2020, đó là một kết quả rất ấn tượng. Do đó có thể nói phía cung có những tín hiệu tích cực, tuy nhiên vấn đề nằm ở phía cầu. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế khi GDP giảm tới hơn 6% trong quý III, nhiều người dân đã mất việc làm, bị giảm thu nhập và đã cạn sạch tiền tiết kiệm, bởi vậy họ không thể tiêu dùng hay mua sắm hàng hóa.

Người dân giờ đây cũng lo lắng hơn về tương lai, kết quả là họ sẽ giữ tiền và chờ đợi. Đó là lý do vì sao phía cầu không đạt được mức như cùng kỳ năm ngoái. Vậy giải pháp ở đây là gì? Rõ ràng Chính phủ cần triển khai các biện pháp kích cầu, đó là nội dung Chính phủ cần triển khai mạnh mẽ hơn nữa và Chính phủ cũng đang xem xét các biện pháp triển khai mạnh mẽ hơn, ví dụ như ban hành các gói tài khóa mạnh mẽ hơn như nhiều quốc gia khác đã thực hiện.

Tin tốt là việc triển khai gói tài khóa này hoàn toàn khả thi vì Việt Nam vẫn còn dư địa tài khóa. Cụ thể tỷ lệ nợ công mới chỉ ở mức 44% trong khi trần nợ công được Quốc hội thông qua ở mức hơn 60%. Như vậy Việt Nam vẫn còn dư địa để vay vốn.

Ngoài ra, dù không đẩy mạnh vay vốn thì Việt Nam cũng có thể tăng chi ngân sách, bởi dự trữ tiền mặt của Chính phủ vẫn ở mức cao. Câu hỏi ở đây là khoản dự trữ tiền mặt này nên được phân bổ như thế nào? Câu trả lời là hãy khởi động lại các chương trình đầu tư công như đã triển khai trong năm 2020 và hỗ trợ cho những người dân bị mất việc làm, giảm thu nhập hay đã cạn sạch tiết kiệm, do ảnh hưởng của dịch Covid-19.

Bên cạnh đó, nếu Chính phủ không muốn chi ngân sách thì có thể thực hiện giảm thuế và giảm phần đóng góp của người dân để người dân có tiền để chi tiêu. Theo tôi đó là những khuyến nghị hữu ích cho Chính phủ trong ngắn hạn.

- Dựa trên những số liệu và xu hướng đã quan sát, theo ông mục tiêu GDP tăng trưởng 6-6,% năm nay có khả thi không?

- Theo tôi nhiệm vụ này hoàn toàn khả thi. Có thể dự báo Việt Nam sẽ quay lại quỹ đạo tăng trưởng của thời kỳ trước đại dịch, nhưng đó là với điều kiện bản thân Việt Nam và cả thế giới sẽ không phải trải qua một cuộc khủng hoảng vì dịch Covid-19 nào nữa.

Tất nhiên, là một nhà kinh tế, tôi không thể dám chắc về điều đó. Đó là điều kiện đầu tiên. Thứ hai, tôi hy vọng rằng Chính phủ sẽ triển khai kích cầu nền kinh tế thông qua những chính sách tôi đã nêu ở trên về việc chi ngân sách và chính sách thuế.

Trường hợp thực hiện được các nội dung này, tôi tin rằng Việt Nam sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trở lại như trước đây, thậm chí còn có thể mạnh mẽ hơn nữa, bởi Việt Nam có thể bắt kịp thời điểm để quay lại tốc độ tăng trưởng như thời kỳ trước đại dịch.

Do đó tôi lạc quan về triển vọng kinh tế Việt Nam, tất nhiên với hai điều kiện tôi đã nói ở trên, một là Chính phủ kiểm soát tốt chính sách tài khóa và hai là nền kinh tế không bị đóng cửa trở lại vì đại dịch Covid-19.

- Đâu là những trở ngại khiến Việt Nam có thể không đạt được những mục tiêu này?

- Theo tôi trở ngại lớn nhất chính là rủi ro về tình hình dịch bệnh. Không ai có thể dự báo trước được GDP giảm sâu trong quý III vừa qua, bởi vậy tôi cũng không thể biết chắc được chuyện gì sẽ xảy ra với Việt Nam cũng như với thế giới, trường hợp xuất hiện những làn sóng dịch mới.

Gần đây chúng ta cũng bắt đầu nói về biến thể Omicron, chưa thể biết được biến thể này sẽ gây ra những tác động như thế nào và biết đâu có thể sẽ có những làn sóng dịch bệnh lớn hơn trong những năm tới đây. Theo tôi đó là rủi ro lớn nhất.

Cho dù tình hình dịch bệnh được kiểm soát thì không thể phủ nhận sẽ tồn tại những rủi ro về kinh tế. Việt Nam là một nền kinh tế mở cửa, do đó nền kinh tế Việt Nam sẽ phụ thuộc vào tình hình của nhiều quốc gia khác trên thế giới. Xuất khẩu đã trở thành đầu tàu tăng trưởng của Việt Nam trong nhiều năm qua.

IMF hay WB đã hạ dự báo tăng trưởng của Mỹ và châu Âu và sự trầm lắng của kinh tế thế giới cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế của Việt Nam bởi xuất khẩu sẽ sụt giảm. Đó là một trong những rủi ro, mặc dù kinh tế xuất khẩu của Việt Nam đã được chứng minh là có khả năng hồi phục nhanh trước những cú sốc.

Một rủi ro nữa là vấn đề lạm phát, nhưng hầu hết là lạm phát nhập khẩu, ví dụ hàng hóa như giá dầu tăng cao và ảnh hưởng đối với lưu chuyển hàng hóa và có thể thấy tất cả những điều đó được phản ánh qua tỷ lệ lạm phát của Việt Nam là sự kết hợp của hai yếu tố: giá cả các hàng hóa nhập khẩu tăng cao, trong khi giá hàng hóa trong nước vẫn không tăng lên do cầu vẫn thấp hơn cung. Đây là vấn đề tất nhiên, khi cung cao hơn cầu thì giá sẽ không tăng.

Nhưng hãy giả định trong trường hợp cầu tăng lên, vì chúng ta muốn có tăng trưởng, thì tới một lúc nào đó nó cũng sẽ gây ra lạm phát hàng hóa trong nước, nhưng ở mức có thể kiểm soát được. Tuy nhiên phải chờ xem, có thể sẽ có sự cộng hưởng giữa việc tăng giá các hàng hóa quan trọng và việc tăng giá hàng hóa trong nước từ đó dẫn tới lạm phát tăng cao, đòi hỏi các cơ quan chức năng phải kiểm soát lạm phát thận trọng hơn so với hai năm qua. Đó là rủi ro thứ hai về kinh tế trong năm nay.

- Những rủi ro thường đi đôi với cơ hội. Vậy theo ông đâu sẽ là những cơ hội cho năm 2022?

- Theo tôi vẫn còn đó những cơ hội mà Việt Nam vốn có từ trước tới nay và Việt Nam rất giỏi trong việc nắm bắt những cơ hội này.

Cơ hội đầu tiên là trong hoạt động xuất khẩu. Xuất khẩu chủ yếu phụ thuộc vào các quốc gia trên thế giới, vào vốn FDI vì 80% doanh nghiệp xuất khẩu tại Việt Nam đều là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

 Chúng ta có thể thấy sức hút lớn của Việt Nam đối với các nhà đầu tư FDI. Đó là sự tổng hòa của nhiều yếu tố. Trước hết Việt Nam vẫn là một nền kinh tế có sức hút lớn, lao động có chi phí thấp và làm việc chăm chỉ, hiệu quả. Việt Nam cũng có các cơ chế ưu đãi thuế, từ đó thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư tại Việt Nam.

Mặt khác, dịch Covid-19 cho thấy doanh nghiệp cần phải đa dạng hóa chuỗi cung ứng và Việt Nam là một trong những ứng cử viên sáng giá cho việc này. Nhiều doanh nghiệp lớn đã chuyển tới Việt Nam với mục tiêu đa dạng hóa chuỗi cung ứng và đảm bảo hoạt động xuất khẩu cho nhiều quốc gia khác.

Việt Nam đang tận dụng tốt xu hướng đa dạng hóa này. Đó là cơ hội thứ nhất. Tôi cho rằng Việt Nam tiếp tục tận dụng được lợi thế cạnh tranh của mình.

Tôi cũng cho rằng Việt Nam có thể tận dụng cơ hội từ kinh tế xanh, kinh tế ứng phó với biến đổi khí hậu. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu, chẳng cần đi đâu xa, ngay ở Hà Nội cũng ghi nhận tình trạng ô nhiễm đáng báo động, hay đồng bằng sông Mekong cũng chịu tác động từ việc mực nước biển dâng cao. Do đó, Việt Nam là một trong những nạn nhân của biến đổi khí hậu, nhưng Việt Nam cũng có thể tận dụng chính cơ hội này.

Chẳng hạn như năm 2020 chính phủ Việt Nam đã triển khai chương trình trợ giá cho năng lượng mặt trời và hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào năng lượng mặt trời, và khu vực tư nhân Việt Nam cũng phản hồi rất tích cực. Ví dụ như tổng mức đầu tư của Việt Nam trong 8 tháng năm 2020 vào điện mặt trời cao hơn tổng mức đầu tư của toàn bộ các quốc gia ASEAN hay toàn bộ châu Phi. Đó là một ví dụ cho thấy Việt Nam có tiềm năng về phát triển năng lượng sạch bởi có thể nhân rộng kịch bản đã thực hiện với năng lượng mặt trời cho năng lượng gió, pin và các sản phẩm xanh khác. Điều này cho thấy sự năng động của khu vực tư nhân ở Việt Nam.

- Bên cạnh FDI và cơ hội từ kinh tế xanh, lĩnh vực nào sẽ đóng vai trò quan trọng cho việc phát triển của kinh tế Việt Nam trong năm nay và giai đoạn tới?

- Như tôi đã nói, trong ngắn hạn các lĩnh vực đóng vai trò quan trọng sẽ vẫn là xuất khẩu và chuyển đổi sang kinh tế xanh.

Trong trung hạn, một yếu tố đã từng xuất hiện từ trước đại dịch Covid-19 chính là nhu cầu trong nước, khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập cao hơn, khi Việt Nam có tầng lớp trung lưu ngày càng lớn mạnh, tất cả những điều đó sẽ đẩy mạnh nhu cầu trong nước.

Nhìn lại những yếu tố chính thúc đẩy tăng trưởng cho giai đoạn trước đại dịch chính là sức mua của tầng lớp trung lưu kết hợp với sự phát triển của các doanh nghiệp lớn trong nước để đáp ứng cho nhu cầu ngày càng tăng này.

Tôi tin rằng đây sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế, đó là sự chuyển dịch từ nhu cầu nước ngoài sang nhu cầu trong nước và sự gia tăng của tầng lớp trung lưu sẽ tiếp tục kích thích sự tăng trưởng về cả cung và cầu ở Việt Nam. Một lần nữa, tôi tin rằng đó sẽ là yếu tố chính thúc đẩy tăng trưởng.

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo