Thứ năm, 17/10/2019 | 14:34 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Kết quả kinh doanh quý III/2019 Cú lao dốc của FTM Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Chứng quyền có bảo đảm Cổ phần hóa 93 doanh nghiệp Nhà nước
Thứ tư, 9/9/2015, 08:22 (GMT+7)

Chuyên gia Bùi Trinh: Công nghiệp không nên là mũi nhọn của Việt Nam

Thứ tư, 9/9/2015, 08:22 (GMT+7)

Chuyên gia Bùi Trinh

Chuyên gia của Tổng Cục Thống kê, ông Bùi Trinh cho biết lâu nay trong các báo cáo kinh tế đều mặc nhiên thừa nhận cơ cấu của khu vực II (công nghiệp) và khu vực III (Dịch vụ) trong GDP cần phải tăng lên và coi đó như một sự phát triển kinh tế đúng hướng và ý tưởng trong tái cấu trúc kinh tế là cần đẩy mạnh cả khu vực II và khu vực III.

Về đầu tư: Tỷ lệ đầu tư trên giá trị tăng thêm của khu vực này từ năm 2000 đến nay luôn rất cao, năm 2000 tỷ lệ này là vào khoảng 41%, đến nay tỷ lệ này xấp xỉ 50%, đây là tỷ lệ đầu tư cực cao, nhưng một điều trớ trêu là tỷ lệ giá trị tăng thêm của nhóm ngành này (khu vực II) lại giảm nhanh đến đáng kinh ngạc.

Tỷ lệ này theo cấu trúc của năm 2000 (cấu trúc của bảng I/O năm 2000 của Tổng cục Thống kê) là 34% đến những năm gần đây (cấu trúc của bảng I/O mới) tỷ lệ này khoảng 27%.

Điều này có nghĩa càng ngày khu vực này càng kém hiệu quả, lượng đầu tư ngày càng phải tăng lên để bù đắp vào sự kém hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của khu vực này.

Về xuất nhập khẩu: Khu vực này cũng là khu vực khiến nhập khẩu gia tăng nhanh chóng, tỷ lệ nhập khẩu của khu vực này chiến trên 90% tổng giá trị nhập khẩu từ năm 2000 đến nay và khu vực này cũng là khu vực khiến nhập siêu ngày càng trầm trọng.

"Theo đó, khu vực này không chỉ có mức đòi hỏi nhập khẩu cao để làm chi phí đầu vào cho sản xuất mà còn có mức độ lan tỏa về nhập khẩu rất lớn, điều này có nghĩa khi tăng lên một đơn vị sản phẩm cuối cùng của khu vực này không lan tỏa đến sản xuất và thu nhập nội địa mà lan tỏa mạnh đến nhập khẩu, tổng ảnh hưởng về nhập khẩu cao hơn mức bình quân chung của nền kinh tế. Điều này có thể lý giải một cách trực quan rằng khi một sản phẩm của khu vực này khi được bán trong nước, hoặc xuất khẩu thì cũng chỉ làm kích thích nhập khẩu mà thôi, như vậy tuy sản phẩm được xem như sản xuất trong nước nhưng thực chất cũng là nhập khẩu", chuyên gia Bùi Trinh nhận định.

Như vậy khi khu vực này càng được mở rộng thì càng phải đầu tư nhiều và kích thích nhập khẩu. Trong khi xuất khẩu của khu vực này chỉ là con số ảo

Xét ảnh hưởng của các thành phần của nhu cầu cuối cùng (tiêu dùng, tích lũy và xuát khẩu) trong nước đến nhập khẩu. Nhu cầu về nhập khẩu lan tỏa bởi tích lũy, xuất khẩu và tiêu dùng trung gian ngày càng tăng; đặc biệt các sản phẩm sản xuất trong nước được sử dụng cho tích lũy tài sản kích thích nhập khẩu mạnh nhất.

Điều này khẳng định và bổ sung cho nhận định ở trên là nhiều sản phẩm dù mang mác nhãn sản xuất của Việt nam nhưng thực ra cũng chỉ mang tính chất gia công hoặc lắp ráp.

Nhập khẩu lan tỏa bởi các yếu tố của cầu trong nước

Tiêu dùng SP SX trong nước

Tích lũy SPSX trong nước

Xuất khẩu

Sản xuất

1989

1.321

1.385

1.212

1.231

1996

1.312

1.404

1.220

1.242

2000

1.389

1.463

1.282

1.321

2007

1,275

1,729

1,459

1,43

2011

1.31

1.50

1.52

1,54

Như vậy, để cơ cấu 3 khu vực là hợp lý, cơ cấu khu vực II cần nhỏ lại ở mức hợp lý, và tập trung vào những ngành có chỉ số lan tỏa cao như công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp. Chuyên gia Bùi Trinh nhấn mạnh công nghiệp không nên là khu vực mũi nhọn ở Viêt nam.

Khu vực I (Nông lâm, thủy sản) không thể bi teo tóp quá vì đây là khu vực quan trọng là điểm tựa cho các khu vực khác. Sản phẩm của khu vực này là đầu vào của KV II và mục đích quan trọng hơn cả là đảm bảo an ninh lương thực.

Cần tập chung để đồng thời tỷ trọng và chỉ số lan tỏa của khu vực III (khu vực dich vụ) tăng lên vì ngoài nhiều yếu tố thì yếu tố xuất khẩu của khu vực này là “tiền tươi, thóc thật”.

Ông Bùi Trinh nhận định: "Do khu vực II của Việt nam cơ bản không tự chủ đươc nguyên vật liệu đầu vào mà cơ bản hầu hết các ngành trong khu vực này có nguồn nguyên vật liệu chính cho sản xuất từ nhập khẩu, hơn nữa do quá chú trọng và đầu tư quá mức vào khu vực này trong khi nguồn tiết kiệm của khu vực này quá yếu kém sẽ dẫn đến những bất ổn vĩ mô như thâm hụt cán cân thương mại và thâm hụt nhân sách là khó tránh khỏi. Theo tôi nguyên nhân chính của những bất ổn vĩ mô là do cơ cấu kinh tế chưa hợp lý".

Bạch Dương

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo