Chủ nhật, 4/12/2022 | 02:15 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ Chuyên trang Người Đồng Hành.

Câu chuyện kinh doanh Ngân hàng bán nợ/tài sản thế chấp Nhìn lại nửa đầu năm 2022 Ngày ấy - Bây giờ Bí mật đồng tiền
Thứ sáu, 4/9/2020, 18:18 (GMT+7)

Chính sách thu hút FDI phải là 'may đo', không thể là 'may sẵn'

Ngọc Hà Thứ sáu, 4/9/2020, 18:18 (GMT+7)

Tại buổi tọa đàm "Thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài: Hành động và giải pháp đột phá” diễn ra hôm nay (4/9), các chuyên gia đều chung nhận định rằng Việt Nam có lợi thế thu hút dòng vốn FDI trong xu hướng chuyển dịch, mở rộng đầu tư sản xuất nhằm tránh những thiệt hại từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu do ảnh hưởng của Covid-19. Tuy nhiên để biến cơ hội thành những dự án cụ thể, đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế thì đòi hỏi những cách làm mới, đột phá.

Ông Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), thành viên tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng cho rằng trước hết, Việt Nam cần phải xác được định được mình muốn đón nhận được dòng vốn đầu tư như thế nào? Dòng vốn ấy sẽ đóng góp như thế nào vào quá trình tái cơ cấu tăng trưởng của nền kinh tế?

Hiện FDI vào Việt Nam trước đây chủ yếu đến từ các "thiên đường thuế". Cùng với đó là vốn từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc... Ngược lại, có không nhiều nhà đầu tư lớn đến từ Mỹ, EU... Xu hướng này vẫn chưa được cải thiện sau khi Việt Nam tổng kết 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài. Trong khi đó, chúng ta lại rất cần dòng vốn chất lượng cao, sử dụng công nghệ cao, không thâm dụng lao động và đặc biệt phù hợp với việc cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng. Vậy nhà đầu tư EU, Mỹ muốn gì từ chúng ta?

Ông Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), thành viên tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng.

Ông Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), thành viên tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng. Ảnh: Báo Chính Phủ.

“Điều nhà đầu tư muốn đầu tiên theo tôi đó là luật pháp, chính sách phải ổn định. Văn bản hướng dẫn phải cụ thể và phải dự đoán được trong quá trình thực thi. Không có "tiền gầm bàn", không có chi phí phi chính thức. Những việc mà chúng ta có thể làm được và làm được ngay”, ông Cung nói. Theo đó, tính tuân thủ pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài cực kỳ cao. Họ hiểu rằng rủi ro gặp phải là rất lớn trường hợp không may có vướng mắc về pháp lý. Vì vậy, doanh nghiệp thường tránh đầu tư trong những trường hợp như vậy.

Ngoài ra, ông Cung còn cho rằng chính sách mặt bằng chung là đồng bộ, rõ ràng, nhưng với từng nhà đầu tư, chúng ta phải thiết kế được những chính sách ưu đãi mang tính “may đo”, không phải "may sẵn". Như vậy mới đáp ứng được yêu cầu cụ thể của họ. Từ đó, Việt Nam sẽ chọn được nhà đầu tư chất lượng và cả hai bên sẽ cùng thắng trong cuộc chơi. Khi làm được điều này thì hoạt động quản lý, thu hút đầu tư cũng được thay đổi theo hướng có lựa chọn để đảm bảo hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết 50 của Bộ Chính trị về về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.

Thêm nữa, chính sách thu hút đầu tư phải đảm bảo được doanh nghiệp tư nhân trong nước hỗ trợ được, tham gia hợp tác, cung ứng cho doanh nghiệp FDI. Nếu không, những ưu đãi về thu hút đầu tư vô tình sẽ chỉ dành cho doanh nghiệp nước ngoài.

Đồng tình với quan điểm gói chính sách ưu đãi cho nhà đầu tư "không phải may sẵn mà là may đo", ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài cho biết Bộ Kế hoạch & Đầu tư đang làm việc với các bộ ngành, địa phương xây dựng gói hỗ trợ cho từng loại dự án thay vì ưu đãi đại trà như trước đây. Đồng thời, khi phê duyệt chủ trương đầu tư, Cục Đầu tư nước ngoài có tính đến các yếu tố như chất lượng, công nghệ, hiệu quả và môi trường, cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị... để quyết định mức độ ưu đãi cho dự án. Những dự án nào có số lượng doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng càng nhiều thì được hưởng ưu đãi càng nhiều.

ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài cho biết hiện Bộ Kế hoạch & Đầu tư,

Ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư, Bộ Kế hoạch & Đầu tư. Ảnh: Báo Chính phủ.

Chính sách của cơ quan quản lý nhà nước là vậy nhưng có nắm bắt được hay không lại phụ thuộc rất lớn vào doanh nghiệp. So với các nước trong khu vực hay những nước cạnh tranh trực tiếp về thu thút FDI như Indonesia, Ấn Độ thì tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam thấp nhất, ở mức dưới 30%.

Theo ông Hoàng có ba cách để thay đổi tỷ lệ nội địa hóa. Trước tiên, doanh nghiệp tự nâng cấp năng lực, trình độ của mình, bên cạnh sự hỗ trợ từ đối tác và nhà nước. Thứ hai, doanh nghiệp nội có thể mua doanh nghiệp FDI có công nghệ và đã tham gia chuỗi cung ứng, tiến tới làm chủ công nghệ. Thứ ba, doanh nghiệp Việt có thể đầu tư ra nước ngoài, nhằm vào những công ty đã tham gia chuỗi cung ứng và mang công nghệ đó trở lại áp dụng vào hoạt động sản xuất trong nước.

Ngoài ra, để có sự chuẩn bị về quỹ đất sạch cho những nhà đầu tư lớn, Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã yêu cầu các địa phương rà soát lại quỹ đất tại các khu công nghiệp, khu kinh tế. Trường hợp những dự án chậm tiến độ phải thu hồi quỹ đất.

Đồng thời, Chính phủ cũng thành lập tổ công tác đặc biệt thu hút FDI do Phó Thủ tướng làm tổ trưởng, Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư làm tổ phó thường trực và đã làm việc với nhiều tập đoàn công nghệ, dự án lớn, triển vọng ban đầu cũng rất tích cực.

Bên cạnh việc chú trọng mối liên kết với doanh nghiệp FDI thì mối liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam cũng được ông Nguyễn Văn Toàn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nhà đầu tư nước ngoài đề xuất cần phải lưu tâm. Theo đó, những tập đoàn, doanh nghiệp lớn của Việt Nam có thể dẫn dắt, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ để cùng tham gia vào chuỗi liên kết. Từ đó, doanh nghiệp nhỏ từng bước được nâng cấp năng lực, kinh nghiệm hợp tác và cả nguồn nhân lực từ kinh nghiệm có được sau khi làm việc với doanh nghiệp lớn.

Theo báo cáo về tình hình thu hút FDI của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, tính đến ngày 20/8, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần trên cả nước đạt gần 20 tỷ USD, giảm hơn 13% so với cùng kỳ năm ngoái. Đồng thời, số vốn đầu tư đã thực hiện đạt gần 11,4 tỷ USD, giảm gần 50% so với năm ngoái.

Dòng vốn FDI đã đầu tư vào 18 ngành, lĩnh vực ở Việt Nam. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 9,3 tỷ USD, chiếm 47,7% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp đến là lĩnh vực sản xuất, phân phối điện với tổng vốn đầu tư trên 4 tỷ USD, chiếm hơn 20% tổng vốn đầu tư đăng ký. Sau đó là hoạt động kinh doanh bất động sản, bán buôn bán lẻ với tổng vốn đăng ký lần lượt là gần 2,9 tỷ USD và hơn 1,2 tỷ USD.

Trong số 106 quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư tại Việt Nam, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư hơn 6,5 tỷ USD, chiếm gần 34% tổng vốn đầu tư FDI. Hàn Quốc đứng thứ hai, với tổng vốn đầu tư 2,97 tỷ USD, chiếm hơn 15,%. Trung Quốc đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 1,8 tỷ USD, chiếm khoảng 9%.

Bạc Liệu là địa phương dẫn đầu về thu hút FDI với dự án LNG trị giá 4 tỷ USD, chiếm hơn 20% tổng vốn đăng kỳ đầu tư của cả nước. Sau đó là thành phố Hà Nội và TP HCM với tổng vốn đăng ký lần lượt là gần 2,9 tỷ USD và hơn 2,6 tỷ USD.

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo