Thứ bảy, 19/10/2019 | 06:31 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Kết quả kinh doanh quý III/2019 Cú lao dốc của FTM Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Chứng quyền có bảo đảm Cổ phần hóa 93 doanh nghiệp Nhà nước
Thứ hai, 5/1/2015, 09:49 (GMT+7)

Thái Bình Dương trỗi dậy

Thứ hai, 5/1/2015, 09:49 (GMT+7)

Nhận định của Henry không phải là không có cơ sở. Trước kia, khi nhắc đến khu vực Thái Bình Dương người ta thường liên tưởng đến việc đánh bắt cá voi, hay được ví như " cuộc rượt đuổi cá voi khổng lồ trên vùng biển tinh anh của đại dương toàn cầu". William Henry Seward là một người có tầm nhìn xa.

Ông đã từng làm thư ký bên cạnh tổng thống Abraham Lincoln năm 1986 và tham gia vào việc mua lại Alaska từ tay Sa hoàng Nga năm 1987. Do vậy, ông biết ý nghĩa đằng sau những cố gắng của Mỹ trong việc mở cửa khu vực Thái Bình Dương. Đây là bước đi cần thiết để thích ứng với "Cơn sốt vàng" ở California; hoàn thành tuyến đường sắt xuyên lục địa để luân chuyển hàng hoá và nhân lực từ Mỹ đến các châu lục khác; mở tuyến đường thuỷ thông qua Trung Mỹ để các tàu chở hàng đi qua; và sở hữu vùng lãnh thổ Thái Bình Dương rộng lớn bao gồm quần đảo Hawaii và Midway - trung tâm thương mại và an ninh trọng yếu.

Henry là một trong những thành viên năng nổ trong bộ máy quyền lực non trẻ của nước Mỹ thời kỳ đó, do vậy ông đã chọn khu vực Thái Bình Dương để thể hiện khả năng của mình. Trong một bài phát biểu trước Quốc hội năm 1852, ông dự đoán rằng tầm quan trọng của khu vực trung tâm Đại Tây Dương gần châu Âu sẽ giảm dần, "trong khi đó khu vực Thái Bình Dương, với vùng biển và các quần đảo rộng lớn, sẽ trở thành "sân khấu" chính cho các sự kiện quan trọng diễn ra sau này". Về mặt thương mại, ông nói thêm, nơi đây sẽ trở thành "động lực phát triển mới ", giúp tăng cường quan hệ Mỹ và Trung Quốc.

Thái Bình Dương là một khu vực thú vị và có nhiều điểm khám phá. Nó trải dài liên tục trên diện tích 165 triệu m2 (ngoại trừ một số đảo nhỏ), lớn hơn toàn bộ đất liền trên trái đất gộp lại. Tuy nhiên, khu vực này dường như rất ít khi được nhắc đến. Khẩu hiệu "Địa Trung Hải là đại dương của quá khứ, Đại Tây Dương là đại dương của hiện tại, và Thái Bình Dương là đại dương của tương lai", được nhắc đến lần đầu tiên hơn 100 năm trước, dường như vẫn đúng trong thời điểm hiện tại.

Tuy nhiên, 50 năm sau ngày Nhật Bản chính thức "gia nhập lại thế giới" (cụm từ được sử dụng bởi Ian Buruma) với việc tổ chức thế vận hội Olympics năm 1964, thời đại của khu vực Thái Bình Dương đã tới. Sức mạnh kinh tế của Nhật Bản đã đạt đỉnh khoảng 25 năm trước, đồng thời nó cũng đem đến sự cạnh tranh xuyên Thái Bình Dương giữa Mỹ và Trung Quốc nhằm đạt danh hiệu "nền kinh tế lớn nhất thế giới". Giao thương giữa ba quốc gia này giúp giữ vững "mạch máu" kinh tế thế giới.

Đồng thời, các giao dịch thương mại hiện nay đã xuất hiện tại những vùng đất xa xôi nhất của Thái Bình Dương. Kể từ những năm 1970, kim ngạch thương mại qua khu vực Thái Bình Dương đã vượt qua khu vực Đại Tây Dương. Lấy ví dụ, Trung Quốc có nhu cầu lớn về các loại thực phẩm giàu protein và nguyên liệu thô; do đó nước này đã trở thành đối tác thương mại lớn của vùng đất Chile xa xôi. Theo ước tính, trong năm 2010 khu vực Mỹ Latin đã nhận được các khoản vay từ Trung Quốc, nhiều hơn tổng cộng từ Ngân hàng Thế giới (World Bank), Ngân hàng Phát triển liên hiệp Mỹ và Ngân hàng xuất nhập khẩu Hoa Kỳ.

Sự kết nối này đã làm nền cho sự phát triển của khu vực Thái Bình Dương. Trong thập kỳ vừa qua, nền kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng trung bình 1,6% mỗi năm, khu vực châu Âu 1,7%, My Latin 4,6%, Đông Á 5,4% và Đông Nam Á 5,9%. Trong khi đó, 21 nền kinh tế lớn nhất thuộc Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương APEC đóng góp gần một nửa kim ngạch thương mại toàn cầu. Chúng ta sẽ gọi chung khu vực này là "Thái Bình Dương", mặc dù tên gọi này không bao gồm nền các kinh tế đến từ khu vực châu Đại Dương.

"Khu vực này không chỉ bao gồm 'công xưởng' của thế giới mà còn là nguồn cung cấp quan trọng trong các lĩnh vực dịch vụ, công nghệ và đầu tư, thị trường tiêu thụ hàng hoá", theo nhận định của nhà kinh tế học về thương mại quốc tế Peter Petri.

Bên cạnh kinh tế, sự thịnh vượng của toàn khu vực cũng có sự gia tăng đáng kể. Tại các khu vực nghèo nhất châu Á (mức sống trung bình từ 2 - 20 USD một ngày), quy mô của tầng lớp trung lưu đã tăng gấp bảy lần kể từ năm 2000. Ở Mỹ Latin, con số này tăng gấp đôi. Tại nhiều khu vực ở Malaysia, các tài xế xe taxi "trưng diện" như các nhân viên môi giới vila tại eo biển Malacca - một trong những tuyến đường thương mại sầm uất nhất của thế giới.

Cả Mỹ và Trung Quốc đều nhận rõ tầm quan trọng trong việc duy trì "động cơ kinh tế" này, vì vậy hai bên vẫn giữ thái độ ngoại giao "hợp tác" trong các tuyên bố chính thức. Năm 2011, ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã lý giải "mục tiêu" của tổng thống Barack Obama về châu Á trong một báo cáo về Chính sách đối ngoại quốc tế: "Chúng ta đều biết rằng căng thẳng và hiểu lầm vẫn còn tồn tại bên hai bờ Thái Bình Dương. Sự vươn lên mạnh mẽ của Trung Quốc trong thời gian gần đây đã trở thành mối đe doạ đối với Hoa Kỳ; nhiều người lo ngại rằng Mỹ sẽ tìm cách hạn chế sự phát triển của Trung Quốc. Chúng tôi bác bỏ cả hai lập luận trên".

Trong một cuộc họp với ông Obama ở California vào năm ngoái, Chủ tịch nước Trung Quốc - ông Tập Cận Bình đã phát biểu: "Khu vực Thái Bình Dương có đủ không gian cho hai đế quốc khổng lồ: Mỹ và Trung Quốc."

Ngay khi khu vực Thái Bình Dương đang chuẩn bị ăn mừng thành quả trong nửa thế kỷ vừa qua, nhiều vấn đề căng thẳng bắt đầu xuất hiện.

Đó là sự gia tăng cạnh tranh giữa các "quốc gia siêu cường" và chủ nghĩa dân tộc đang nổi lên ở Nhật Bản, Trung Quốc cũng như những cơn gió biến động bất ngờ từ Hong Kong, Thái Lan và Bắc Triều Tiên. Các "biến động" ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và các rủi ro tiềm tàng là những thách thức mà APEC phải đối mặt ngay từ khi nó mới thành lập năm 1989," Alan Bollard - giám đốc điều hành APEC nói.

Bên cạnh đó là các làn sóng trái chiều phức tạp. Nhiều quốc gia Đông Nam Á lo ngại rằng cam kết của Mỹ đối với khu vực đang bị dao động bởi mối đe doạ lớn hơn từ Trung Đông và Ukraine. Đồng thời, họ không muốn Mỹ khiêu khích Trung Quốc bằng việc tham gia quá sâu vào các vấn đề của khu vực.

Gần đây, căng thẳng đã lan sang cả lĩnh vực kinh tế. Trung Quốc và Mỹ đều có kế hoạch riêng trong việc phát triển vùng biển Thái Bình Dương thành một trung tâm thương mại và mậu dịch tự do khổng lồ trong tương lai. Chính quyền của ông Obama đã từng tuyên bố họ muốn tiến tới một hiệp ước thương mại với các qui tắc rõ ràng, cụ thể nhằm đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác xuyên Thái Bình Dương. Trong dự thảo này, Trung Quốc được định hướng sẽ tiếp tục duy trì mô hình chủ nghĩa tư bản nhà nước.

Fred Bergsten đến từ Viện kinh tế quốc tế Peterson, Washington miêu tả các ý đồ thương mại và chiến lược quân sự này đan xếp như một giải đấu ngẫu hứng. "Chúng ta đang đứng giữa một cuộc chuyển đổi lịch sử tác động đến kiến chung kinh tế nói chung của khu vực Thái Bình Dương. Các mô hình kinh tế và chính trị ngày càng cạnh tranh khốc liệt, như một chùm bóng bay hỗn loạn được thả tự do trên bầu trời", ông nói.

Trong quá khứ, Thái Bình Dương là một khu vực kém phát triển so với Đại Tây Dương - nhiều nhà nghiên cứu nhận định, nó hoàn toàn lép vế so với các cường quốc năng lượng khác. Qua nhiều thế kỷ, các cường quốc châu Âu coi đây là vùng đất kinh doanh độc quyền mà họ rất khó tiến vào. Cướp biển là những "thương nhân" tự do duy nhất ở đây. Thảm hoạ lịch sử này đang có nhiều nguy cơ lặp lại.

Nhiều người cho rằng điểm yếu nhất của khu vực này là không có một cơ sở pháp lý vững chắc để đảm bảo công bằng cho các giao dịch. Trong khi đó hiến chương của khu vực Đại Tây Dương được xây dựng năm 1941 bởi Winston Churchill và Franklin Roosevelt, qui định rõ ràng về các qui tắc ngăn chặn xâm chiếm lãnh thổ, lưu thông thương mại và đảm bảo tự do giao dịch trên biển. Ngày nay, tất cả những vấn đề trên vẫn đang gây nhiều nhức nhối ở bờ tây Thái Bình Dương.

Ông Bergsten cho rằng "sự tương đồng văn hoá" giữa các quốc gia khu vực Đại Tây Dương - nơi sản sinh ra các điều lệ và tổ chức như NATO - tạo nên sự khác biệt với các quốc gia Thái Bình Dương, hay thậm chí khu vực Đông Nam Á. "Sở hữu một bãi biển bên bờ Thái Bình Dương không có nghĩa bạn sẽ trở thành thành viên của cộng đồng đó," Robert Manning đến từ Hội đồng Đại Tây Dương nói. Một vài người cho rằng qui tắc duy nhất ở khu vực Đông Á là chủ nghĩa dân tộc và lịch sử xâm lược giữa các quốc gia.

Bốn lý do để lạc quan

Tuy nhiên, bài viết này sẽ phân tích theo giả thiết trào lưu "chia sẻ" sẽ chiếm ưu thế. Khu vực Đông Á có nhiều điểm tương đồng với Mỹ khi yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất quyết định quyền lực là sự giàu có. "Ở Đông Á, ngoại trừ Bắc Triều Tiên, phương thức các nhà cầm quyền quyết định luật lệ thay đổi liên tục và nhanh hơn sự phát triển của bất kỳ học thuyết chính trị nào," Bilahari Kausikan - đại diện từ đại sứ quán Singapore cho biết. "Phương thức này không đủ để đảm bảo hoà bình. Tuy nhiên, ít nhất các chính phủ Đông Á sẽ giảm thiểu tối đa cản trở và duy trì tốc độ tăng trưởng."

Bên cạnh tăng trưởng, các quốc gia khu vực Thái Bình Dương cam kết hợp tác trên 3 lĩnh vực chủ đạo là thương mại, kết nối và cải cách. Trong khi các giá trị và ý tưởng cải cách lan truyền qua bờ Đại Tây Dương thông qua các nhóm hành hương Pilgrim Fathers, sự lưu thông hàng hoá xuyên Thái Bình Dương chủ yếu là vàng, bạc, lụa, đồ sứ, các loại gia vị, gỗ đàn hương - đa số được sản xuất tại Trung Quốc. Ngày nay, phần lớn các giao dịch tập trung trong lĩnh vực silicon.

Thương mại cũng thay đổi theo thời gian. Mô hình "nhạn bay" mẫu mực một thời của Nhật Bản (mô hình công nghiệp hoá theo hướng V, tập trung phát triển một số ngành công nghiệp hàng đầu chủ chốt) đã giúp tạo nên "phép màu" tại nhiều nền kinh tế Đông Nam Á những năm 1990. Tuy nhiên, sự tự tin không thể kéo dài. Sức cạnh tranh của Mỹ không ngừng tăng cao nhờ cuộc cách mạng năng lượng trong nửa thập kỷ vừa qua; do vậy nhiều nền kinh tế châu Âu trở nên thân thiết và phụ thuộc hơn vào cường quốc này.

Thương mại xuất hiện cùng các ý tưởng mới. Kishore Mahbubani - nhà văn đến từ Singapore - cho rằng nền kinh tế thị trường tự do đứng đầu trong danh sách "7 chiến lược khôn ngoan nhất" mà châu Á học tập được từ phương Tây, cùng với khoa học - công nghệ, chính sách trọng dụng nhân tài, chủ nghĩa thực dụng, hoà bình, luật pháp và giáo dục. Trong khi đó, các nước châu Mỹ Latin bên bờ Thái Bình Dương lại tìm đến khu vực Đông Á để học tập các mô hình kinh tế hiệu quả.

Các nước nhỏ hơn bên bờ Thái Bình Dương, bao gồm Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã liên kết với nhau để chống lại sức mạnh từ các cường quốc lớn. Dòng chảy nhân lực liên tục di chuyển từ khu vực Thái Bình Dương sang Thung lũng Silicon và ngược lại. Các chương trình giao lưu văn hoá giữa ba quốc gia: Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc được tổ chức thường xuyên, giúp thắt chặt mối quan hệ hợp tác và tăng cường chủ nghĩa dân tộc.

Thái Bình Dương là nơi networking - trào lưu mạng xã hội của thế kỷ 21 - phát triển nhanh nhất thế giới. Từ thung lũng Silicon đến Thượng Hải và ngược lại, các công ty Internet lớn tăng trưởng với tốc độ đáng kinh ngạc. Nirvikar Singh, đồng tác giả cuốn sách "The Oxford handbook of the Economics of the Pacific Rim," xuất bản đầu năm nay , cho biết các đại dương trên toàn cầu đang dần trở thành các "sân chơi kỹ thuật số".

Tuy nhiên, để thực sự trở thành một sân chơi hơn là một chiến trường, khu vực này cần thiết lập các quy tắc chi phối thương mại và điều hành các tuyến thông thương đường biển. Kể từ sau chiến tranh thế giới lần 2, các quy tắc này đã được củng cố bởi sự hiện diện của quân đội gìn giữ hoà bình Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương. Họ cũng tham gia vào việc hàn gắn các vết thương chiến tranh. Tuy nhiên, Mỹ không phải là "vị trọng tài" duy nhất.

Ông Bollard đến từ tổ chức APEC cho biết khu vực này đã hưởng lợi từ tập hợp các tiêu chuẩn “lỏng lẻo” – mang tính hướng dẫn hơn là các qui tắc chuẩn mực và bắt buộc. Sự vươn lên của Trung Quốc trong những năm gần đây đi cùng với mong muốn tăng cường “tiếng nói” trong khu vực và áp đặt các luật lệ riêng, đặc biệt với các nước láng giềng. Vì vậy, để đạt được sự đồng thuận từ bất cả các bên trong việc thiết lập luật lệ chung sẽ còn là thử thách lớn với khu vực Thái Bình Dương trong nửa thế kỷ tới.

Thảo Phương - Theo Economist

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo