Thứ bảy, 10/4/2021 | 18:08 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Giải cứu siêu tàu container chắn kênh Suez "Sốt" đất trên cả nước ĐHĐCĐ 2021 Kế hoạch kinh doanh 2021
Thứ hai, 21/12/2020, 08:59 (GMT+7)

Siết trái phiếu doanh nghiệp: Coi chừng siết quá tay

Tân Văn Thứ hai, 21/12/2020, 08:59 (GMT+7)

Mối lo thanh khoản giảm

Trước thời điểm Nghị định 163/2018 của Chính phủ về phát hành TPDN có hiệu lực, thị trường TPDN Việt Nam suốt thời gian dài tồn tại trong tình trạng phát triển “chợ chiều”, èo uột. Tuy nhiên, với nhiều cơ chế thông thoáng cả cho bên bán lẫn bên mua, sau khi văn bản này có hiệu lực từ ngày 1/2/2019, thị trường TPDN đã có sự phát triển bùng nổ. Thậm chí, những tín hiệu phát triển "nóng" xuất hiện, Bộ Tài chính đã có một số lần cảnh báo về mức độ rủi ro có thể phát sinh với cả doanh nghiệp phát hành lẫn nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ vốn ít am hiểu về TPDN. Trong bối cảnh đó, Bộ Tài chính đã đề xuất Chính phủ ban hành Nghị định 81/2020 sửa đổi Nghị định 163/2018.

Với nhiều điểm mới theo hướng siết chặt hơn các quy định về khoảng cách giữa các đợt phát hành, công khai rõ ràng mục đích phát hành, tổ chức phát hành phải ký hợp đồng tư vấn với tổ chức tư vấn về hồ sơ phát hành trái phiếu..., kể từ khi Nghị định 81/2020 có hiệu lực từ ngày 1/9 đến nay, lượng vốn huy động qua kênh phát hành TPDN suy giảm rõ rệt. Theo Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, nếu như trong tháng 8, trên thị trường TPDN ghi nhận tới 172 đợt phát hành thành công, với lượng vốn lên đến gần 38.400 tỷ đồng, thì các con số này trong tháng 9 lần lượt giảm còn 30 đợt và hơn 10.500 tỷ đồng. 

png-1-2-jpg53-3957-1607680704.jpg

Trong bối cảnh TPDN ở Việt Nam còn tiềm ẩn rủi ro, vì tổ chức phát hành lẫn trái phiếu được bán ra thị trường chưa được xếp hạng định mức tín nhiệm như thông lệ quốc tế, việc nhà quản lý gia tăng các chính sách quản lý, giám sát, minh bạch thị trường là cần thiết. Tuy nhiên, liều lượng “chặt tay” trong các cơ chế quản lý cần được thực hiện phù hợp, linh hoạt, để vẫn đảm bảo không gian cho tổ chức phát hành và nhà đầu tư chuyên nghiệp tham gia thị trường, tránh siết... quá liều.  

Trao đổi với Người Đồng Hành, một lãnh đạo Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA) nhìn nhận sau khi áp dụng các cơ chế mới tại Nghị định 81/2020, thị trường TPDN đã bị suy giảm thanh khoản, ảnh hưởng đến nỗ lực huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường vốn. Sau lần đầu bị siết các điều kiện mua - bán này, thị trường đang đối mặt với lần siết thứ hai, đó là Ngân hàng Nhà nước đề xuất hạn chế các ngân hàng thương mại đầu tư vào TPDN.

Ông phân tích, với tư cách là khối nhà đầu tư chuyên nghiệp luôn chiếm tỷ trọng nắm giữ TPDN cao trên thị trường, các ngân hàng thương mại đang đối diện với phải tuân thủ những cơ chế mới theo hướng cắt giảm đầu tư vào TPDN. Đành rằng điều này góp phần giúp các ngân hàng có “sức khỏe” tài chính tốt hơn, nhưng mặt không tích cực là ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường vốn.

Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước đang hoàn thiện dự thảo thông tư quy định về tổ chức tín dụng mua, bán TPDN thay thế Thông tư số 22/2016 và Thông tư 15/2018 của Ngân hàng Nhà nước. Dự thảo có nhiều điểm mới như: Tổ chức tín dụng (TCTD) không được mua TPDN phát hành có mục đích để góp vốn, mua cổ phần tại doanh nghiệp khác; TCTD chỉ được mua TPDN khi có tỷ lệ nợ xấu dưới 3% theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán tại năm liền kề trước năm mua TPDN, trừ trường hợp mua TPDN theo phương án cơ cấu lại được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật. TCTD không được mua trái phiếu của doanh nghiệp phát hành có phát sinh nợ xấu tại tổ chức tín dụng mua và tại TCTD khác trong vòng 12 tháng gần nhất tính đến thời điểm quyết định phê duyệt mua... 

Ngoài ra, các ngân hàng không được mua TPDN có mục đích để góp vốn, mua cổ phần tại doanh nghiệp khác. Ngân hàng Nhà nước cho biết đã phát hiện ra một số trường hợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu với mục đích thực hiện chương trình, dự án đầu tư của doanh nghiệp, tăng quy mô vốn hoạt động nhưng thực tế là huy động vốn để góp vốn, mua cổ phần tại doanh nghiệp khác. Cơ quan quản lý cho rằng điều này khiến cho ngân hàng khó kiểm soát được mục đích sử dụng vốn, dòng tiền từ nguồn phát hành trái phiếu, tình hình thực hiện dự án...

Việc Ngân hàng Nhà nước không cho các ngân hàng thương mại mua TPDN có mục đích góp vốn, mua cổ phần chủ yếu là để kiểm soát khoản đầu tư vào TPDN của các ngân hàng nhằm đảm bảo thoả mãn các điều kiện cho vay tương tự như một khoản cho vay tín dụng để giảm thiểu rủi ro cho chính các ngân hàng. Việc góp vốn, mua cổ phần này sẽ khiến chính các ngân hàng cũng như cơ quan quản lý khó kiểm soát được rủi ro hệ thống. 

Cần buộc các ngân hàng minh bạch trong đầu tư TPDN

Đồng tình với một số đề xuất của Ngân hàng Nhà nước song đại diện một số ngân hàng cho rằng TCTD là nhà đầu tư lớn chuyên nghiệp nên hơn ai hết họ lo cho túi tiền của mình sao cho an toàn và có khả năng sinh lời tốt. Do đó, một số nội dung trên của Ngân hàng Nhà nước có phần can thiệp hơi sâu vào hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Điều này dẫn đến nguy cơ làm giảm đi tính chủ động, linh hoạt của các TCTD trong quá trình kinh doanh, đồng thời ảnh hưởng không tích cực đến sự phát triển của thị trường vốn.

Theo đề xuất từ phía ngân hàng, sẽ phù hợp hơn khi nhà quản lý gia tăng các biện pháp buộc TCTD minh bạch các khoản đầu tư vào TPDN, đổi lại vẫn tạo không gian linh hoạt cho họ được lựa chọn đầu tư vào các TPDN phù hợp với khẩu vị rủi ro của ngân hàng. 

Mặt khác, việc Ngân hàng Nhà nước đưa ra các chỉ tiêu khống chế ngân hàng thương mại đầu tư vào TPDN không nên cào bằng giữa loại trái phiếu, cũng như doanh nghiệp phát hành đã được định mức tín nhiệm với các sản phẩm và doanh nghiệp chưa được xếp hạng định mức tín nhiệm. Ngoài ra, nguyên tắc trên thị trường tài chính là doanh nghiệp càng có mức độ rủi ro hoạt động cao thì chi phí huy động vốn càng lớn. Bởi vậy, tỷ trọng đầu tư vào TPDN của các ngân hàng cũng không nên cào bằng giữa đầu tư vào TPDN của các doanh nghiệp hoạt động trong những ngành có rủi ro thấp, sức khỏe tài chính và hiệu quả kinh doanh tốt với doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực rủi ro cao, an toàn tài chính và hiệu quả kinh doanh thấp...

Để giảm thiểu rủi ro cho thị trường TPDN, các TCTD trông đợi Bộ Tài chính sớm có giải pháp thúc đẩy tổ chức xếp hạng tín nhiệm đi vào hoạt động. Điều này sẽ tạo thêm “bộ lọc” đánh giá trái phiếu, cũng như tổ chức phát hành, nhằm giúp nhà đầu tư nhận diện được rủi ro để có phương án đầu tư phù hợp.

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo