Thứ sáu, 18/6/2021 | 01:26 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Lạm phát - mối lo mới của thị trường thế giới Làn sóng tăng vốn 2021 Đầu tư hạ tầng vùng ĐBSCL Cuộc khủng hoảng nguồn cung chip toàn cầu ĐHĐCĐ 2021
Thứ ba, 26/3/2019, 13:10 (GMT+7)

‘Nhà đầu tư cần bảo vệ mình bằng kiến thức, giảm phụ thuộc tin đồn’

Trần Ngọc Tùng Thứ ba, 26/3/2019, 13:10 (GMT+7)

Nâng cao chất lượng công bố thông tin là một điểm quan trọng trong quá trình đánh giá nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam, đồng thời giúp nhà đầu tư tiếp cận một cách rõ hơn về sức khỏe của doanh nghiệp. Người Đồng Hành có buổi phỏng vấn với ông Phan Lê Thành Long - Giám đốc Viện Kế toán quản trị công chứng Australia - về vấn đề này.

- Theo đánh giá của ông, chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán Việt Nam hiện nay ra sao?

-Việt Nam cũng giống như các thị trường cận biên khác, mức độ bảo vệ nhà đầu tư vẫn còn yếu. Điều này dẫn đến độ tin tưởng của các dòng tiền lớn khi đầu tư vào TTCK Việt Nam là không cao và chúng ta đang cải thiện dần để có thể được nâng hạng. Tại Việt Nam chưa có một nghiên cứu tổng thể về chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán nhưng đánh giá chủ quan của tôi thì chất lượng báo cáo tài chính của Việt Nam chưa cao. Lý do là hệ thống pháp lý về công bố thông tin và chuẩn mực kế toán doanh nghiệp hiện nay chưa hoàn thiện, còn nhiều kẽ hở để các doanh nghiệp cố tình lợi dụng.

Trên thị trường có rất nhiều chủ thể tham gia, và mỗi chủ thể có những lợi ích khác nhau dẫn tới việc chất lượng thông tin báo cáo tài chính có thể bị tác động. Cấu trúc quản trị công ty đại chúng còn yếu ảnh hưởng đến tính độc lập của các công ty kiểm toán. Chúng ta có thể dẫn chứng trường hợp có những doanh nghiệp cùng hoạt động kinh doanh trong một ngành nhưng được xử lý cùng một nghiệp vụ kế toán theo cách hoàn toàn khác nhau, dẫn đến kết quả kinh doanh cũng khác nhau.

Về cơ bản, nếu xem xét báo cáo tài chính doanh nghiệp trên phương diện tổng thể thì phải có yếu tố so sánh. Khi nhà đầu tư nghiên cứu báo cáo tài chính doanh nghiệp sẽ so sánh các doanh nghiệp cùng ngành, cùng quy mô, P/E, tài sản… Yếu tố rất quan trọng khác trong câu chuyện nâng hạng là so sánh với các thị trường quốc tế. P/E của thị trường Việt Nam không thể so sánh với nước ngoài vì chuẩn Việt Nam không theo chuẩn của quốc tế. Tuy nhiên, muốn thu hút được dòng vốn đầu tư gián tiếp thì buộc Việt Nam phải theo luật quốc tế.

Mục tiêu của Chính phủ là nâng quy mô vốn trên thị trường chứng khoán, nâng hạng thị trường và thu hút dòng tiền. Để làm được điều này cần phát triển được thị trường đúng nghĩa. Thay vì để dòng tiền chảy vào chơi cá cược, tín dụng đen thì cần hút vào chứng khoán. Như Thái Lan, người dân đầu tư chứng khoán rất nhiều. Việt Nam cần có thị trường tốt, truyền thông tốt mới huy động nguồn vốn xã hội tốt. Hiện nay, Việt Nam có 2,2 triệu tài khoản nhưng chỉ khoảng 500.000 tài khoản “active”. Dòng tiền nội địa của Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng.

- Vậy theo ông chúng ta cần làm gì để có thể cải thiện tình hình công bố thông tin của doanh nghiệp, tăng niềm tin cho nhà đầu tư?

- Việt Nam đang đứng trước sức ép của các tổ chức quốc tế để nâng cao chất lượng thị trường, nâng cao vai trò công bố thông tin, áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong báo cáo tài chính và các các vấn đề trong quản trị công ty.

Chính phủ Việt Nam đã có một chiến lược đề ra để giải quyết các vấn đề trên và đang được các tổ chức nước ngoài hỗ trợ rất nhiều như World Bank, IFC. Tôi cũng tham gia đề án áp dụng các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRSs) cùng với Bộ Tài chính.

Các doanh nghiệp phải tự nâng cao quản trị doanh nghiệp thông qua ủy ban kiểm toán độc lập và chủ động thông tin cho nhà đầu tư.

- Doanh nghiệp bắt buộc phải công bố báo cáo tài chính kiểm toán hàng năm, nhưng nếu có sự “bắt tay” giữa doanh nghiệp và công ty kiểm toán thì sao, thưa ông?

- Công ty kiểm toán và ngành kiểm toán Việt Nam còn nhiều hạn chế cả về chủ quan và khách quan.

Xét về yếu tố khách quan, có 2 điểm rất quan trọng. Kiểm toán phải đảm bảo được tính độc lập và thứ hai là nâng cao chất lượng dịch vụ. Muốn đảm bảo tính độc lập thì phải tùy theo cơ chế quản trị của công ty. Hiện nay, mô hình quản trị của các doanh nghiệp Việt Nam theo mô hình 2 cấp - hội đồng quản trị và ban kiểm soát, mô hình ít nước trên thế giới dùng. Các nhà đầu tư, doanh nghiệp quốc tế đến Việt Nam gần như không biết về ban kiểm soát. Trong khi đó, họ hỏi chúng ta về uỷ ban kiểm toán thì ta không biết. Việt Nam mới bắt đầu áp dụng theo Nghị định 71, Nghị định 05 về ủy ban kiểm toán và kiểm toán nội bộ. Ủy ban kiểm toán là một bộ phận trực thuộc HĐQT. Điều 134b của Luật Doanh nghiệp vừa qua đã lần đầu tiên cho phép mô hình này trong cơ chế hoạt động của doanh nghiệp.

Trong khi đó, theo đánh giá của tổ chức quốc tế mô hình ban kiểm soát hiện nay chỉ “mang ý nghĩa trên giấy”. Mô hình này không đảm bảo được tính độc lập và minh bạch. Trong Ủy ban kiểm toán, quan trọng nhất là những thành viên HĐQT độc lập đủ mạnh, họ có quyền như một thành viên HĐQT nhưng ở vị thế độc lập. Vinamilk là ví dụ điển hình nhất của mô hình này. Nếu ủy ban kiểm toán độc lập đủ mạnh thì cơ quan kiểm toán được lựa chọn sẽ có thể đủ độc lập.

Khách quan thứ hai là về chuẩn mực kiểm toán, có một khoảng khá lớn để “du di” một số vấn đề theo hai chiều hướng khác nhau vì tính chất của kiểm toán là tính xét đoán.

Hai yếu tố khách quan đến từ thị trường và muốn cải thiện lĩnh vực kiểm toán thì phải thay đổi về quản trị công ty. Quản trị không phải để giám sát hay gây khó dễ trong doanh nghiệp. Nếu quan sát 10 năm trước thị trường có những doanh nghiệp rất lớn nhưng giờ lại rơi và tình trạng khó khăn, trong khi có những doanh nghiệp chỉ mới xuất hiện 7-8 năm gần đây trên sàn nhưng lại trở thành doanh nghiệp tỷ đô. Những công ty mà quản trị không đủ mạnh, nhân sự không đủ tốt để đấu với thị trường thì giờ khó khăn hơn nhiều. Còn những doanh nghiệp có nhân sự tốt, có thể phản biện HĐQT thì giờ vẫn phát triển.

Quay trở lại với các công ty kiểm toán, các đơn vị này phải chịu một áp lực từ chính bản thân và thái độ của doanh nghiệp thuê họ. Việc kiểm toán sẽ ở tình trạng là tính hữu hiệu không cao nếu tính độc lập không cao.

Về mặt chủ quan cũng có nhiều yếu tố. Bởi vì công ty kiểm toán cũng là doanh nghiệp kinh doanh. Mỗi công ty sẽ có một môi trường khác nhau, tiêu chuẩn khác nhau, chưa kể đến mâu thuẫn về mặt lợi ích khi công ty kiểm toán tham gia tư vấn cho doanh nghiệp.

- Ông vừa nhắc đến Ủy ban kiểm toán độc lập, nhưng thực tế ngay cả thành viên HĐQT độc lập hiện nay chúng ta đều rất thiếu. Luật yêu cầu mỗi công ty phải có 1/3 số thành viên là HĐQT độc lập nhưng nhân sự không đáp ứng đủ, điều gì có thể khiến các doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu về Ủy ban kiếm toán?

- Theo Luật doanh nghiệp và thông lệ quốc tế, chủ nhiệm Ủy ban kiểm toán độc lập phải là thành viên HĐQT độc lập.

Mặt khác, luật cũng yêu cầu 1/3 thành viên HĐQT phải là thành viên độc lập, nhưng thực tế không có nhiều công ty áp dụng và nếu có cũng chỉ mang tính hình thức. Ví dụ như FPT có thành viên HĐQT độc lập người Nhật nhưng không đủ số lượng.

Thành viên HĐQT độc lập là một yếu tố quan trọng để tăng sự giám sát và phản biện trong cơ chế. Nhưng tại nhiều doanh nghiệp Việt Nam không có vì 2 lý do. Thứ nhất do ý thức của HĐQT công ty. Họ không nhận thức rằng nếu có thành viên HĐQT độc lập thì sẽ tốt hơn. Tuy nhiên, thực tế phần lớn các doanh nghiệp có vấn đề đều do thiếu sự giám sát và phản biện vì không phải lãnh đạo nào cũng có thể ra quyết định đúng.

Thứ hai là yếu tố khách quan từ thị trường hiện nay thiếu nhân sự để bầu làm thành viên HĐQT độc lập. Tìm được một người có năng lực, kiến thức và sẵn sàng làm là tương đối khó.

Tôi cũng đang là thành viên HĐQT của một số doanh nghiệp trên sàn. Mọi các nghị quyết đều phải xin ý kiến thành viên HĐQT, và tôi có thể cố vấn hoàn thiện hệ thống giám sát. Chủ tịch HĐQT cần phải xác định thành viên HĐQT độc lập là người cần thiết.

- Còn dưới góc độ nhà đầu tư, theo ông nhà đầu tư cần quan tâm đến các chỉ số nào trên báo cáo tài chính để bảo vệ mình?

- Có nhiều điểm cần chú ý. Ví dụ ở Mỹ, một doanh nghiệp đại chúng muốn lập công ty rất khó. Nhưng ở Việt Nam thì điều này lại rất dễ. Vì vậy, nhà đầu tư cần chú ý đến các công ty liên quan, công ty vỏ bọc của đơn vị niêm yết. Thứ hai là chất lượng tài sản như khoản phải thu, hàng tồn kho, và một trong những điểm quan trọng là lợi thế thương mại. Có doanh nghiệp có lợi thế thương mại chiếm 63% tài sản.

Mặt khác, vì cơ chế quản lý còn nhiều điểm bị giới hạn nên nhà đầu tư cần phải tự bảo vệ chính mình bằng cách tự trang bị kiến thức và giảm phụ thuộc vào những tin đồn.

Bản thân cơ chế giám sát là hậu kiểm cũng tồn tại thiếu sót cộng với chính câu chuyện tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, cũng tạo sức ép lên Sở và Ủy ban rất lớn.

- Xin cảm ơn ông!

Lê Hải

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo