Thứ bảy, 4/7/2020 | 09:26 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

EVFTA có hiệu lực Thành phố phía Đông Dịch viêm phổi cấp do virus nCoV Kết quả kinh doanh quý I/2020 Họp ĐHĐCĐ thường niên 2020
Thứ bảy, 20/12/2014, 12:28 (GMT+7)

Hạ lãi suất: Kỳ vọng khó thành

Thứ bảy, 20/12/2014, 12:28 (GMT+7)

Trong quy chế phối hợp 4 bộ, NHNN được giao nhiệm vụ xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu. Với cách tiếp cận như vậy, lạm phát 2015 được kỳ vọng sẽ trong tầm kiểm soát từ đó lãi suất cho vay có thể tiếp tục hạ. Nhưng với những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế chính trị thế giới, lãi suất có thể giảm như mong muốn của doanh nghiệp?

Theo suy luận thông thường, lãi suất và lạm phát có mối quan hệ thuận chiều với nhau. Lạm phát cao, lãi suất tăng và ngược lại khi lạm phát thấp lãi suất cũng sẽ giảm theo, miễn sao đảm bao yêu cầu lãi suất thực dương. Minh chứng cụ thể là diễn biến lạm phát – lãi suất những năm vừa qua.

Giai đoạn lạm phát cao 2011, trần lãi suất huy động đưa lên 14%/năm nhưng vẫn không hấp dẫn người gửi tiền vì lạm phát có tháng leo lên 22%. Các NH để đảm bảo thanh khoản đã chạy đua huy động với lãi suất vượt trần lên tới 18-23%/năm. Đến nay, khi lạm phát xuống thấp chỉ 3%, lãi suất huy động ở kỳ hạn ngắn ở một số ngân hàng lớn chỉ còn 4,3%/năm và 6-7%/năm với kỳ hạn dài.

Nhưng theo các doanh nghiệp, lãi suất vẫn chưa được điều hành sát với diễn biến của lạm phát. Khi lạm phát 20-22% thì trần huy động chỉ 14%/năm, còn khi lạm phát xuống còn hơn 3% thì trần huy động ngắn hạn vẫn là 5,5%/năm. Hệ quả lãi suất cho vay của doanh nghiệp quá cao so với những đối thủ cạnh tranh đến từ các quốc gia trong khu vực. Như lãi suất cho vay tại Trung Quốc Trung Quốc là 6,6%/năm, Thái Lan là 6,9%/năm hay Malaysia là 4,9%/năm.

Thậm chí, theo báo cáo của NHNN, đến hết quý III vẫn còn 4% tổng dư nợ có lãi suất vay lên tới 15%/năm. Lãi suất vay thông thường phổ biến từ 9-11%/năm ; riêng với một số ngành lĩnh vực ưu tiên là 7-8%/năm.

Lãi suất cho vay ở trong nước khó giảm do nhiều nguyên nhân từ nội tại hệ thống ngân hàng đến cân đối vĩ mô không dễ xử lý.

Mặc dù lạm phát xuống nhưng hệ thống ngân hàng vẫn đang trong quá trình tái cơ cấu, xử lý nợ xấu. Trước đây, NHNN ban hành quyết định cơ cấu nợ nhằm hỗ trợ các ngân hàng nhưng xét cho cùng những khoản nợ được cơ cấu vẫn nhiều rủi ro, và không ít khoản nợ phải chuyển nhóm nợ. Thậm chí có bán nợ xấu cho VAMC thì các TCTD vẫn phải trích lập dự phòng 20%/năm cho TP đặc biệt được nhận. Tính đến hết 2014, VAMC mua khoảng 100 ngàn tỷ đồng nợ xấu, dự kiến cuối 2015 sẽ mua được 200 ngàn tỷ đồng nợ xấu. Như thế, năm 2015 các ngân hàng sẽ phải trích lập thêm 20 ngàn tỷ đồng cho TP đặc biệt của VAMC. Đây là nguyên nhân không thuận cho ngân hàng hạ lãi suất.

Thứ hai, liên quan đến kỳ hạn huy động và cho vay của các ngân hàng. Lãi suất thấp chủ yếu ở kỳ hạn ngắn, dưới 6 tháng còn với kỳ hạn trên 1 năm vẫn được huy động 6-8%/năm. Để giúp hạ lãi suất cho vay, NHNN đã ban hành Thông tư 36 cho phép sử dụng 60% vốn huy động ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Nhưng quy định này cũng tạo ra rủi ro kỳ hạn đối với ngân hàng, có thể gây căng thẳng thanh khoản với những nhà băng quản trị rủi ro yếu. Thực tế, hệ thống ngân hàng đã từng trải qua những giai đoạn khó khăn thanh khoản như vậy với hệ quả lãi suất liên ngân hàng tăng cao, thậm chí tồn tại cả “nợ xấu liên ngân hàng”. Do đó, dù được phép thì các ngân hàng cũng sẽ rất thận trọng khi sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho những hợp đồng tín dụng trung dài hạn của doanh nghiệp.

Cuối cùng, câu chuyện liên quan đến tỷ giá. Theo định hướng nhà điều hành, năm 2015 tỷ giá cũng sẽ biến động trong khoảng 2% để cân đối với các yếu tố vĩ mô khác. Nếu lãi suất huy động xuống thấp để lãi suất cho vay ra ngang bằng các nước trong khu vực thì chênh lệch lãi suất giữa VND và USD sẽ không nhiều, kích thích người dân chuyển sang nắm giữ USD, gây áp lực lên tỷ giá. Chưa kể đến sự mạnh lên của đồng USD so với các đồng tiền khác trong thời gian gần đây. Vì vậy, để bảo vệ giá trị VND, ổn định tỷ giá, điều kiện cần là lãi suất giữ ở mức hợp lý. Cho nên, thay vì kỳ vọng lãi suất cho vay giảm, các doanh nghiệp nên xây dựng kế hoạch kinh doanh trên giả định lãi suất không đổi cũng như tìm nguồn vốn từ những kênh khác như phát hành cổ phần, hay trái phiếu.

Thanh Hải

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo