Thứ bảy, 19/9/2020 | 19:45 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

BĐS khu công nghiệp 20 năm thị trường chứng khoán Việt Nam 25 năm Việt - Mỹ Kết quả kinh doanh quý II/2020 EVFTA có hiệu lực
Thứ tư, 24/1/2018, 17:04 (GMT+7)

Bị cáo Trầm Bê cho rằng mục đích chỉ để bảo vệ tiền của Sacombank

Khổng Chiêm Thứ tư, 24/1/2018, 17:04 (GMT+7)

Tại phiên tòa, bị cáo Trầm Bê cho biết không trục lợi cá nhân, Phạm Công Danh đáp ứng các điều kiện cho vay thì mới được vay. Phạm Công Danh đơn giản chỉ là khách hàng của Sacombank nên thực hiện thủ tục cho vay theo nghiệp vụ ngân hàng. Bị cáo Trầm Bê cũng nói trong 40 năm chưa hề phạm pháp, đã làm ngân hàng gần 10 năm nay dù học thức thấp.

Bị cáo mong Viện kiểm sát, HĐXX giảm nhẹ tội cho mình vì đã làm nhiều việc tốt cho xã hội, chưa làm gì sai trái và chỉ bảo vệ tiền của Sacombank.

Bị cáo cho biết khi cho vay không thể điều tra nguồn tiền ở đâu vì chỉ cơ quan luật pháp mới có quyền. Với bị cáo, tiền mang đến bảo lãnh đều là tiền hợp pháp do đó mong HĐXX xem xét giảm án.

Bị cáo Trầm Bê đồng thời xin xem xét giảm án cho Phan Huy Khang vì chỉ là cấp dưới, được giao việc thì làm. Bị cáo mong được HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Khang.

Bị cáo Trầm Bê (áo xanh đen)

Luật sư Nguyễn Thị Mai Hồng, bào chữa cho bị cáo Trầm Bê tham gia tranh tụng và nêu 3 vấn đề mặt chủ quan, khách quan, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và thiệt hại xảy ra với thân chủ mình.

Theo đó, về mặt chủ quan, bị cáo Trầm Bê không có dấu hiệu cùng ý thức của đồng phạm. Lập luận của cáo trạng là không đủ chứng minh bị cáo Trầm Bê đồng phạm với bị cáo Danh. Giữa cáo trạng và kết luận điều tra bổ sung nhận định về vấn đề này cũng không thống nhất. Việc bị cáo Trầm Bê quen biết bị cáo Danh không phải là căn cứ chứng minh hành vi vi phạm pháp luật.

Về vấn đề này cáo trạng nêu bị cáo Trầm Bê, Khang có quen biết với bị cáo Danh và biết bị cáo Danh là Chủ tịch VNCB. Việc quen biết không thể là vấn đề quyết định các bị cáo hay người liên quan có vi phạm pháp luật hay không. Vấn đề quyết định việc phạm tội của các bị cáo nằm ở chỗ các bị cáo biết bị cáo Danh vi phạm pháp luật mà các bị cáo vẫn giải quyết cho vay.

Hành vi của bị cáo Trầm Bê trong việc đồng ý chủ trương cho 6 công ty vay vốn, ký duyệt tờ trình cho 6 công ty vay là phù hợp với pháp luật, cụ thể là Luật các TCTD và Quyết định 1627. Trong toàn bộ sự việc này, bị cáo Trầm Bê không có dấu hiệu biết mặt chủ quan của đồng phạm. Vì vậy không thể xác định bị cáo là đồng phạm với bị cáo Danh.

Về mặt khách quan, bị cáo Trầm Bê không cùng vi phạm pháp luật với hành vi của bị cá Danh như cáo trạng nêu. Trang 91 cáo trạng xác định bị cáo Danh vi phạm quy định TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được thực hiện các hoạt động gửi tiền, nhận tiền gửi trừ tiền gửi thanh toán và các giao dịch gửi tiền, nhận tiền gửi có kỳ hạn tối đa 3 tháng tại TCTD, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác kể từ ngày thông tư này có hiệu lực. Việc VNCB gửi tiền sang Sacombank đã nhắc trong hồ sơ vụ án và việc gửi tiền đã có kết luận giám định việc gửi tiền là được phép thực hiện. Nên bị cáo Trầm Bê không có đồng phạm với bị cáo Danh trong việc cố ý làm trái quy định này.

Kết luận của cáo trạng nêu việc cấp bảo lãnh cho các công ty của Danh vay tiền nhưng không có tài sản bảo đảm là vi phạm quy định của Nghị định 163 và Thông tư 28. Luật sư nêu cụ thể Điều 16 bảo đảm cho nghĩa vụ bên bảo lãnh, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài với bên được bảo lãnh thỏa thuận việc áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm.

Với quy định này nhận định của VKS như trong cáo trạng là không có căn cứ khi cho rằng việc cấp bảo lãnh cho các công ty vay tiền nhưng không có tài sản bảo đảm là vi phạm các quy định của Nghị định số 163 và Thông tư 28. Do đó việc cấp bảo lãnh của VNCB là hợp pháp. Ngược lại, nếu các cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh được vi phạm trong việc cấp bảo lãnh của VNCB thì đây là vi phạm riêng của VNCB không liên quan tới bị cáo Trầm Bê. Pháp luật cũng không quy định bị cáo Trầm Bê kiểm tra xác minh trong trường hợp này.

Với cáo buộc vi phạm Nghị định 163 và Thông tư 28 VKS không xác định điều luật vi phạm nên không chứng minh được hành vi thuộc yếu tố khách quan cũng như pháp luật không buộc khách hàng phải có tài sản bảo đảm khi ngân hàng cấp bảo lãnh. Vì vậy VKS quy kết bị cáo Trầm Bê đồng phạm với bị cáo Danh trong trường hợp này là không có căn cứ.

Thứ ba, luật sư chỉ ra không có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi vi phạm do bị cáo Danh thực hiện và bị cáo Trầm Bê bị quy kết đồng phạm. Việc Sacombank nhận bảo lãnh bằng tiền gửi của VNCB là hợp pháp và ngân hàng VNCB thiệt hại 1.800 tỷ đồng từ hoạt động bảo lãnh cho 6 công ty mà nguyên nhân trực tiếp là ngân hàng này bảo lãnh nhưng không có tài sản bảo đảm của 6 công ty.

Do đó cho dù bị cáo Danh vi phạm khoản 1 Điều 165 Luật các TCTD thì hành vi này cũng không phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại của VNCB. Thiệt hại đến từ bị cáo Danh vi phạm các quy định khác mà các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm chứng minh trong trường hợp này là tội cố ý làm trái, với hành vi cụ thể là xâm hại khoản 1 điều 126 Luật các TCTD đã không xảy ra. Vì vậy bị cáo Trầm Bê không thể phạm tội cố ý làm trái với vai trò đồng phạm với bị cáo Danh.

Những căn cứ và quy định pháp luật ở trên chứng minh bị cáo Trầm Bê không có dấu hiệu cố ý thực hiện hành vi vi phạm với bị cáo Danh nên không thể là đồng phạm trong vụ án. Bên cạnh đó về mặt khách quan không có quan hệ nhân quả giữa việc vi phạm khoản 1 điều 126 Luật các TCTD 2010 với số tiền 1.800 tỷ thiệt hại của VNCB. Vì vậy tội phạm không xảy ra trong trường hợp này. Việc VNCB thiệt hại số tiền 1.800 tỷ đến từ hoạt động khác là hoạt động bảo lãnh ngân hàng, hoàn toàn không liên quan tới bị cáo Trầm Bê cũng như Sacombank.

Luật sư đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Trầm Bê không phạm tội Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng với vai trò đồng phạm giúp sức với bị cáo Danh.

Luật sư Phạm Đức Trung bào chữa cho bị cáo Trầm Bê cũng nêu cáo trạng quy tội cho thân chủ đồng phạm với Phạm Công Danh là không đúng, bởi Trầm Bê không phạm tội cố ý làm trái. Quá trình duyệt hồ sơ cho vay cho đến khi giải ngân khoản vay, bị cáo Trầm Bê không biết 6 công ty vay là của bị cáo Danh và không biết tiền được chuyển về cho bị cáo Danh sử dụng.

Khi vụ án xảy ra, bị cáo Trầm Bê mới biết 6 công ty của bị cáo Danh và biết việc tiền giải ngân là do bị cáo Danh sử dụng. Khi làm việc với cơ quan điều tra và tại tòa, bị cáo Trầm Bê có nhìn nhận có sai sót của phía mình, do chủ quan, tin tưởng có tài sản đảm bảo nên mới duyệt cho vay, nhưng do không xem xét toàn diện nên mới xảy ra sai phạm.

Khổng Chiêm

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo