Thứ ba, 22/9/2020 | 17:20 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

BĐS khu công nghiệp 20 năm thị trường chứng khoán Việt Nam 25 năm Việt - Mỹ Kết quả kinh doanh quý II/2020 EVFTA có hiệu lực
Thứ ba, 23/1/2018, 14:13 (GMT+7)

7 bất cập pháp lý nếu không trừ 4.500 tỷ đồng ra khỏi thiệt hại vụ án Phạm Công Danh

Khổng Chiêm Thứ ba, 23/1/2018, 14:13 (GMT+7)

Luật sư Trần Minh Hải trong phần bào chữa cho bị cáo Phạm Công Danh đưa ra các vấn đề mong HĐXX xem xét.

Giao dịch tiền gửi VNCB và 3 ngân hàng không sai phạm

Các giao dịch tiền gửi giữa VNCB với BIDV, Sacombank, TPBank không sai phạm pháp luật, thậm chí các khoản tiền gửi đều đáp ứng điều kiện xác lập giao dịch tiền gửi liên ngân hàng. Tại Sacombank, hợp đồng tiền gửi có tên gọi "Hợp đồng tiền gửi thanh toán không kỳ hạn", tại TPBank là "Hợp đồng tiền gửi không kỳ hạn", tại BIDV, thời hạn gửi tiền là 7 ngày.

Thứ hai, pháp luật không bắt buộc cứ cấp tín dụng thì phải có tài sản bảo đảm như cáo trạng nêu sai phạm đối với bị cáo Phạm Công Danh. Cáo trạng nêu Phạm Công Danh là người chỉ đạo việc cấp bảo lãnh cho các công ty của Danh vay tiền nhưng không có tài sản đảm bảo là vi phạm các quy định của Nghị định số 163 và Thông tư số 28.

Chiếu theo điều 127 Luật các tổ chức tín dụng, các công ty của Phạm Công Danh không thuộc đối tượng bắt buộc cho vay phải có tài sản đảm bảo. TCTD được xem xét quyết định cho vay trên cơ sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm bằng tài sản. Do đó, pháp luật không hề bắt buộc cứ cấp tín dụng là phải có tài sản bảo đảm.

Toàn cảnh phiên tòa

Thứ ba, cần phải bác bỏ quan điểm xác định thiệt hại từ lãi suất cho vay dự kiến vì không phù hợp với thực tiễn kinh doanh ngân hàng và pháp luật về ngân hàng. Đại diện VKS cho rằng VNCB phải trả lãi suất khi huy động tiền gửi của người dân, sau đó nếu đem cho vay sẽ thu được lãi suất cho vay cao, có lợi nhuận. Việc VNCB không cho vay mà đem nguồn vốn huy động đi gửi liên ngân hàng tại BIDV, TPBank, Sacombank dẫn tới bị mất khoản tiền chênh lệch từ lãi suất cho vay nếu đem cho vay, so với lãi suất tiền gửi nhận được trên thị trường liên ngân hàng.

Theo luật sư Hải, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát chỉ có thể xem xét, nếu như pháp luật buộc ngân hàng cứ huy động vốn là phải đem cho vay. Nhưng pháp luật không hề có quy định nào như thế này. Nếu như quan điểm thiệt hại từ lãi suất cho vay dự kiến này được chấp nhận sẽ làm đảo lộn hoạt động của hệ thống ngân hàng.

7 bất cập pháp lý

Theo luật sư Hải, nếu không loại trừ ngay số tiền 4.500 tỷ đồng ra khỏi số liệu thiệt hại hơn 6.126 tỷ đồng sẽ có 7 nghịch lý bất cập pháp lý nghiêm trọng tồn tại trong vụ án này.

Số tiền 4.500 tỷ đồng nộp tiền tăng vốn điều lệ VNCB được luật sư Hải đặc biệt lưu ý. Trong 4.500 tỷ đồng này có 4.000 tỷ đồng do 22 cá nhân nộp tiền mua cổ phần; 200 tỷ đồng vay tại TPBank và số tiền 300 tỷ đồng còn lại xuất phát từ các cá nhân liên quan đến Phạm Công Danh nộp tiền, trong đó phần lớn là tiền vay từ chính VNCB. Tháng 12/2013, số tiền này đã nộp đủ vào VNCB, sau đó không được NHNN chấp thuận tăng vốn nên số tiền đã không được sử dụng tăng vốn.

Nghịch lý thứ nhất, một đặc điểm pháp lý mới của tiền tệ được hình thành - Hòa chung sau đó sẽ hòa tan. CBBank xác định 4.500 tỷ đồng đã bị hòa tan, không được trả lại cho những người nộp tiền mua cổ phần, cũng không được khấu trừ bù đắp thiệt hại trong vụ án.

Theo luật sư, 4.500 tỷ đồng hòa chung vào nguồn vốn của CBBank là điều rất bình thường. Tuy nhiên nếu như sau khi hòa chung vào nguồn vốn của CBBank mà khoản tiền này không còn, không có số liệu theo dõi riêng và theo dõi chung trong tổng thể nguồn vốn thì là điều rất bất bình thường. Khoản tiền này hòa chung vào nguồn vốn, nhưng không thể hòa tan đến mức không còn số liệu nào theo dõi được.

Nghịch lý thứ hai, ngân hàng được sử dụng và khai thác kinh doanh nguồn tiền bất hợp pháp. CBBank cho rằng không phải hoàn trả lại khoản tiền 4.500 tỷ đồng vì tiền này có nguồn gốc bất hợp pháp. Nếu vấn đề này được thừa nhận, sẽ tạo nên một chuỗi mâu thuẫn pháp lý khó lý giải. Nguồn tiền đó có bất hợp pháp hay không, thì cũng không thuộc lý do CBBank được viện dẫn để từ chối hoàn trả lại cho những người nộp tiền. Bởi đó là tiền của 22 cá nhân nộp vào mua cổ phần trong đợt tăng vốn điều lệ ngân hàng.

Luật sư Trần Minh Hải (Ảnh: Huyền Trâm)

Vốn điều lệ không tăng được, thì khoản tiền 4.500 tỷ đồng không thuộc về CBBank, phải hoàn trả lại cho những người nộp tiền. Sau đó truy xét nguồn gốc hợp pháp hay bất hợp pháp và xử lý thu hồi thiệt hại là phạm vi của pháp luật hình sự, không liên quan đến Ngân hàng Xây dựng.

Trong trường hợp coi đây là số tiền bất hợp pháp thì càng phải khấu trừ ngay vào thiệt hại của vụ án này. Số tiền này cũng chưa bao giờ nằm trong túi của ông Phạm Công Danh mà ở CBBank. Nếu vừa xác định số tiền 4.500 tỷ đồng là tiền bất hợp pháp, lại vừa xác định CBBank không phải hoàn trả lại, không cần khấu trừ số tiền vào thiệt hại vụ án tức là thừa nhận CBBank được đặc quyền sử dụng và kinh doanh nguồn tiền bất hợp pháp.

Nghịch lý thứ ba, cứ động đến tiền của ngân hàng sẽ có nguy cơ bị coi là tiêu tiền với tư cách cá nhân. CBBank đã sử dụng khoản tiền 4.500 tỷ đồng này vào các mục đích như Tăng dư nợ cho vay khách hàng (1.851 tỷ đồng); Tăng các khoản phải thu (2.932 tỷ đồng); Trả nợ vay Ngân hàng Nhà nước (440 tỷ đồng); Trả tiền gửi/ tiền vay cho các TCTD khác (1.351 tỷ đồng); Trả tiền gửi khách hàng (122 tỷ đồng); Lỗ hoạt động kinh doanh phát sinh trong kỳ (809 tỷ đồng). Toàn bộ các giao dịch sử dụng 4.500 tỷ đồng tăng vốn đều vì hoạt động kinh doanh của CBBank.

Do vậy, nếu kết luận Phạm Công Danh cùng các bị cáo sử dụng và tiêu hết khoản tiền 4.500 tỷ đồng, thì một nghịch lý pháp lý khác sẽ tồn tại: Ai cứ động đến tiền của ngân hàng thì cho dù sử dụng vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng, vì lợi ích của ngân hàng sẽ bị coi là sử dụng, tiêu tiền với tư cách cá nhân.

Nghịch lý thứ 4, hết tiền thì không cần trả nợ. Có quan điểm cho rằng vào thời điểm Phạm Công Danh và các bị cáo khác bị khởi tố bị can, tạm giam thì VNCB đã bị âm vốn chủ sở hữu nên 4.500 tỷ đồng cũng không còn nữa để trả. Tuy nhiên, 4.500 tỷ đồng không hề nằm trong vốn chủ sở hữu của VNCB mà nằm ở khoản mục phải trả. Do đó sẽ vô cùng phi lý nếu ủng hộ quan điểm trên, không khác gì người vay tiền nếu hết tiền thì không cần trả nợ vay.

Nghịch lý thứ 5, cứ thay tên đổi họ, đổi chủ pháp nhân là thoát mọi trách nhiệm tài chính. Cho rằng 4.500 tỷ đồng thuộc về thời điểm trước khi VNCB được NHNN mua lại với giá 0 đồng. Do vậy, đến nay CBBank không có nghĩa vụ phải hoàn trả khoản tiền 4.500 tỷ đồng cho những người nộp tiền.

Tuy nhiên, pháp luật quy định dẫu cho thay tên, đổi chủ cũng không hề thay trách nhiệm, bỏ trách nhiệm. Do vậy, trừ khi đã phá sản, giải thể, pháp nhân CBank vẫn có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ các khoản nợ cho những người nộp tiền, gửi tiền tại ngân hàng này, trong đó có khoản nợ 4.500 tỷ đồng.

Nghịch lý thứ 6, nếu khoản tiền 4.500 tỷ đồng không được khấu trừ ngay vào thiệt hại của vụ án, có nguy cơ Nhà nước sẽ gánh chịu tổn hại thêm hàng nghìn tỷ đồng trong tương lai. Tức là số tiền 4.500 tỷ đồng thuộc về 22 cá nhân, khi không được chấp thuận tăng vốn thì phải trả lại cho họ. Trong trường hợp VNCB chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì sẽ phát sinh lãi suất.

Theo luật, mức lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định là 10%/năm. Chỉ tính riêng trong 4 năm qua, số tiền lãi mà CBBank phải hoàn trả cho những người nộp tiền đã lên đến 1.800 tỷ đồng. Trong khi đó, các cá nhân này được quyền khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu đối với số tiền 4.500 tỷ đồng vào một thời điểm bất kỳ trong tương lai. Theo Điều 155 Bộ luật Dân sự, thời hiệu khởi kiện sẽ không áp dụng trong trường hợp này.

Nghịch lý thứ 7, bản chất mức độ thiệt hại của vụ án này không được làm rõ chỉ vì một phép toán đơn giản. Trong vụ án có 2 con số trọng tâm: 6.126 tỷ đồng là số tiền thiệt hại từ việc VNCB bị khấu trừ tiền gửi do bảo lãnh vay vốn. Con số 4.500 tỷ đồng là số tiền từ việc vay vốn trên cơ sở bảo lãnh bằng tiền gửi của VNCB.

VNCB đã bị khấu trừ 6.126 tỷ đồng tiền gửi do bảo lãnh vay vốn, VNCB cũng đã thu về ngày 4.500 tỷ đồng tiền từ khoản vay được mình bảo lãnh vay vốn. Rõ ràng thiệt hại thực sự của vụ án là kết quả của phép toán trừ, tức còn 1.626 tỷ đồng.

Khổng Chiêm

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo