Thứ tư, 23/9/2020 | 06:53 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

BĐS khu công nghiệp 20 năm thị trường chứng khoán Việt Nam 25 năm Việt - Mỹ Kết quả kinh doanh quý II/2020 EVFTA có hiệu lực
Chủ nhật, 9/8/2020, 15:42 (GMT+7)

Thế khó của doanh nghiệp Mỹ muốn rời Trung Quốc về quê nhà

Trọng Đại (Theo SCMP) Chủ nhật, 9/8/2020, 15:42 (GMT+7)

Khi bắt đầu nhận ra hạn chế trong chuỗi cung ứng, giữa bối cảnh áp lực “hồi hương” của nhiều doanh nghiệp Mỹ đang lớn dần lên, quốc gia này lại phải đối mặt với sự thật không mấy dễ chịu: phần lớn các công ty sẽ không chọn Mỹ làm điểm đến. Các chuyên gia kinh tế cho biết với số ít công ty đã và đang có ý định thực hiện điều đó, có lẽ họ không nên làm vậy.

“Hồi hương là một ý tưởng không tồi đối với những công ty chưa từng đầu tư vào một quốc gia như Trung Quốc”, theo Renaud Anjoran, giám đốc của Sofeast, công ty cung cấp dịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại Trung Quốc và Việt Nam, trụ sở tại Thâm Quyến. “Chi phí của họ khi sản xuất tại các quốc gia này không thấp hơn là mấy so với tại Mỹ, họ cũng chẳng tiết kiệm được nhiều tiền và họ là các công ty không thâm dụng lao động”.

Những thông số chính xác về việc hồi hương của các công ty Mỹ khó có thể thu thập hết. Chỉ số Kearney Reshoring Index ghi nhận xu hướng dịch chuyển hoạt động sản xuất của các công ty Mỹ từ các quốc gia châu Á cao kỷ lục trong năm 2019 nhưng chỉ số này có thiên hướng đo lường các xu hướng vĩ mô hơn là đề cập tới những ngành nghề, công ty và các quốc gia đích đến cụ thể.

Trang web “Reshoring Initiative” cho biết có khoảng 900.000 việc làm đã quay trở lại Mỹ trong giai đoạn từ năm 2010 đến cuối năm 2019 dựa trên những kết quả tìm kiếm trên Google, tuy nhiên lại không đưa ra thông tin về số lượng việc làm đã mất đi.

Patrick Van den Bossche, chuyên gia tại Kearney, chuyên phụ trách vấn đề hồi hương của các công ty Mỹ, cho biết các công ty tuyên bố sẽ chuyển hoạt động sản xuất về Mỹ, chủ yếu là để trở thành tâm điểm trên các mặt báo và nhận được những lời tán thưởng từ các quan chức quốc gia này, nhưng trên thực tế lại không thực hiện điều đó.

“Có không ít những lời khẳng định 'chắc nịch' rằng họ sẽ mang họat động sản xuất quay trở lại Mỹ từ Trung Quốc”, theo Van den Bossche. Thế nhưng, 5.000 việc làm mới sau đó chỉ bị rút bớt xuống còn 500, cho dù các dòng tít trên mặt báo đề cập tới vấn đề này trong hàng năm trời.

“Món súp lúc chúng ta ăn sẽ không nóng như lúc chúng mới được nấu xong. Có rất nhiều các phát biểu 'khoác lác' ở thời điểm hiện tại”.

Các nhà sản xuất muốn trở về Mỹ thường gặp khó khăn như hạ tầng cũ, mạng lưới chưa phát triển và nguồn cung lao động. Ảnh minh họa: SCMP.

Các nhà sản xuất muốn trở về Mỹ thường gặp khó khăn như hạ tầng cũ, mạng lưới chưa phát triển và nguồn cung lao động. Ảnh minh họa: SCMP.

Thực tế đó vẫn không làm giảm nỗ lực kêu gọi của Washington mong muốn các công ty “hồi hương” và “tách biệt hóa” hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, trong bối cảnh quan hệ song phương đang trở nên phức tạp hơn do dịch bệnh Covid-19, chiến tranh thương mại và căng thẳng ngoại giao.

Bộ Quốc phòng và Bộ Thương mại Mỹ đang tạo áp lực lên các công ty Mỹ nhằm giảm hoặc chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh có liên quan tới Trung Quốc; Chính quyền liên bang làm việc với Australia, Ấn Độ và Nhật Bản nhằm hình thành nên các chuỗi cung ứng mới. Tổng thống Donald Trump ký một sắc lệnh trong tháng 5, yêu cầu Cơ quan Tài chính Phát triển Quốc tế Mỹ (IDFC) phải hỗ trợ các nhà sản xuất Mỹ.

“Mục tiêu của tôi là doanh nghiệp Mỹ có thể sản xuất đầy đủ các loại mặt hàng người dân Mỹ cần. Sau đó, xuất khẩu những hàng hóa đó ra toàn thế giới", ông Trump phát biểu trong chuyến thăm tới một nhà máy tại bang Pennsylvania.

Quốc hội Mỹ đưa ra vài dự luật nhắm vào những ngành công nghiệp sản xuất đang dần tái sinh và có tỷ lệ hồi hương cao. Các điều khoản, liên quan các ngành từ đất hiếm, dược phẩm cho đến máy bay không người lái, thép và chất bán dẫn, đề cập tới các gói trợ cấp, giãn thuế, bảo vệ an ninh quốc phòng và các hạn chế đầu tư hoặc lệnh cấm đối với các công ty Trung Quốc.

“Dịch bệnh Covid-19 là hồi chuông cảnh tỉnh giúp chúng ta nhận ra được chúng ta lệ thuộc như thế nào vào Trung Quốc”, theo thượng nghị sĩ Lindsey Graham, đảng Cộng hòa, bang South Carolina.

Các quy luật kinh tế và chính trị không phải lúc nào cũng đi liền với nhau.

Các nhà sản xuất Mỹ hồi hương từ châu Á thường phải đối mặt với thực trạng cơ sở vật chất tồi tàn, cơ sở hạ tầng cũ, mạng lưới các nhà cung cấp kém phát triển, và nguồn lao động không tương thích, các chuyên gia phân tích cho biết.

“Tôi không tin rằng các quốc gia - bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới - có thể tái đào tạo lực lượng lao động nhanh chóng”, theo Rafael Salmi, chủ tịch của Richardson RFPD, công ty kỹ thuật công nghệ trụ sở thành phố Geneva, bang Illinois.

“Bạn sẽ có hàng trăm nghìn lái xe Uber hoặc nhân viên vận chuyển của Instacard, hoặc các thợ làm tóc bị mất việc làm. Phải làm sao để tôi có thể xây dựng một nhà máy công nghệ cao? Vấn đề tiếp cận nhân tài vẫn là một bài toàn khó".

Nhà sản xuất giày thể thao cao cấp Kitbow năm ngoái quyết định rằng việc sản xuất tại Mỹ là vô cùng hợp lý khi cân nhắc tới các yếu tố như phát triển dài hạn, dòng tiền và bất đồng ngôn ngữ so với các nhà cung cấp Trung Quốc của công ty. Nhưng việc có thể áp dụng hệ thống sản xuất tức thời - điều không còn lạ lẫm gì tại khu vực châu Á - lại là một vấn đề tại North Carolina.

“Chúng tôi biết sẽ phải đào tạo lại một số thợ may. Nhưng chúng tôi đã không nhận ra rằng chúng tôi phải đào lại hầu như toàn bộ”, theo Davd Billstrom, CEO của Kitsbow. “Tin tốt là hệ thống máy khâu đã được tự động hóa rất nhiều”.

Ông cũng cho biết rằng công ty phải bỏ ra rất nhiều tiền phục vụ cho công tác đào tạo.

Các quan điểm chính trị ủng hộ việc dịch chuyển hoạt động sản xuất từ châu Á về Mỹ còn có tác động lên các công ty nước ngoài.

Foxconn, công ty Đài Loan chịu trách nhiệm sản xuất các sản phẩm của Apple tại Trung Quốc, công bố kế hoạch về một nhà máy sản xuất TV màn hình phẳng trị giá 10 tỷ USD tại bang Wisconsin, dự án ông Trump ca ngợi là “kỳ quan thứ 8 của thế giới”.

“Đầu tư nhiều, nhiều tỷ USD, tại đây, vào Mỹ, tạo ra hàng nghìn việc làm”, ông Trump phát biểu trong một lễ kỷ niệm được tổ chức vào tháng 7/2017 tại Nhà Trắng. “Ý của tôi là, công việc dành cho công dân Mỹ, đó là điều chúng ta muốn”.

138affd8-c86b-11ea-86df-6d5616-2610-8625

Mục tiêu của Tổng thống Donald Trump là Mỹ có thể tự sản xuất những gì Mỹ cần. Ảnh: Reuters.

Ba năm sau, “trung tâm sáng tạo” của Foxconn ở Mỹ vẫn “im hơi lặng tiếng”. Công ty này chuyển trọng tâm sang sản xuất khẩu trang tại đây, chỉ tạo việc làm cho vài trăm lao động, không phải vài nghìn như kế hoạch trước đó, và đang có những tranh cãi đối với chính quyền bang Wisconsin về các khoản trợ cấp gắn liền với số lượng việc làm đã hứa hẹn.

Trong tháng 5, Taiwan Semiconductor Manufacturing Co, công bố kế hoạch xây dựng một nhà máy xanh trị giá 12 tỷ USD tại bang Arizona. Nhưng các chuyên gia trong lĩnh vực sản xuất chip điện tử đã đặt ra nghi vấn về tính logic và những khoản trợ cấp khổng lồ đằng sau dự án này.

“Bạn có thể nói rằng tôi sẽ dịch chuyển họat động sản xuất, tôi sẽ dịch chuyển các chuỗi cung ứng ngay trong ngày mai”, theo Salmi. “Nhưng sau đó, khi bạn nhìn lại, thì điều đó là hoàn toàn không khả thi”.

Các chuyên gia kinh tế cho biết, trong khi phần lớn các doanh nghiệp phương Tây chuyển hoạt động sản xuất tới Trung Quốc từ năm 2001 vì những động cơ kinh tế, thì vẫn còn đó một tỷ lệ nhỏ các doanh nghiệp không thực hiện các tính toán cần thiết, thay vào đó là đi theo lối suy nghĩ của một nhóm người, hơn là tính logic. Những công ty đó sẽ là những ứng cử viên sáng giá nhất để hồi hương.

David Collins, CEO của Manufacturing Transformation Group có trụ sở tại Thâm Quyến, chuyên tư vấn các công ty sản xuất xe hơi, khí tài quân sự và hàng tiêu dùng tại Trung Quốc, kể về trường hợp của một phó chủ tịch công ty sản xuất nội thất vài năm về trước, người rất quyết tâm chuyển hoạt động sản xuất sang Trung Quốc.

Collins chỉ ra rằng việc dịch chuyển sang Trung Quốc sẽ tiêu tốn khoảng 25 triệu USD, trong khi việc cải tạo và nâng cấp nhà máy tại Mỹ với công suất tương đương chỉ mất khoảng 10 triệu USD. “Ông ấy nhìn tôi và nói 'chúng tôi sẽ tới Trung Quốc'”, Collins cho biết. “Dường như đã xuất hiện một xu hướng tâm lý bầy đàn tại Phố Wall”.

Các công việc hậu cần là vô cùng phức tạp. Và khi các công ty đánh giá lại các chuỗi cung ứng, việc hồi hương có thể là hợp lý đối với các lo ngại liên quan đến vấn đề an ninh quốc phòng và giá trị đặc trưng của doanh nghiệp, các chuyên gia cho biết.

Những công ty đó, bao gồm các công ty trong các lĩnh vực chiến lược như đất hiếm, máy bay không người lái, được hỗ trợ bởi Lầu Năm Góc, các ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng, được tạo điều kiện bởi giá nhiên liệu thấp tại Mỹ, những sản phẩm có biên lợi nhuận cao được tạo dựng bởi thương hiệu “Made in America", và các sản phẩm dược phẩm, các thiết bị bảo hộ cá nhân như khẩu trang.

Nhưng phần lớn các công ty đang tìm cách cắt giảm hoạt động sản xuất tại Trung Quốc vì các lý do như chính trị, thuế quan, chi phí đang gia tăng, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, lại có xu hướng chuyển hoạt động sản xuất sang các quốc gia khác như Mexico, Việt Nam…, theo các chuyên gia.

Nhiều doanh nghiệp vẫn duy trì hoạt động sản xuất tại Trung Quốc để đáp ứng nhu cầu nội địa của quốc gia đông dân nhất thế giới. Dù theo cách nào đi chăng nữa, phần lớn các thay đổi sẽ diễn ra một cách từ từ.

“Phải mất tới 3 thập kỷ để có Trung Quốc như ngày hôm nay”, theo Salmi. “Sau đại dịch, phải mất ít nhất 10 năm để có thể xây dựng lên các trung tâm kinh tế mới tại Mexico, Costa Rica, Việt Nam, Malaysia…”.

72077d00-c868-11ea-86df-6d5616-7474-6475

Foxconn chưa hoàn thành cam kết tại bang Wisconsin, Mỹ. Ảnh: Reuters.

Clive Greenwood, cùng với các chuyên gia tư vấn đến từ Wilson, Weedman, Moscioni & Greenwood, dự báo có khoảng từ 20% tới 25% công ty nước ngoài sẽ rời hoạt động sản xuất khỏi Trung Quốc trong thập kỷ tới.

“Các công ty với những động cơ liên quan tới an ninh quốc phòng sẽ nhanh chân nhất”, ông cho biết. “Với những công ty khác, điều đó còn phụ thuộc vào mức độ áp lực chính trị mà họ phải đối mặt”.

Các chính trị gia ủng hộ việc dịch chuyển nhanh chóng đánh giá thấp tầm quan trọng sự tham gia của Trung Quốc vào hệ thống vận tải toàn cầu cũng như những nhược điểm mà các công ty phải đối mặt trong quá trình dịch chuyển hoạt động sản xuất, các chuyên gia cho biết.

Các chủ doanh nghiệp Trung Quốc thường có cổ phần tại trong nhà máy tại các quốc gia kém phát triển hơn. Hơn nữa, những địa điểm thay thế cho Trung Quốc đang phải vật lộn với những vấn đề bất cập như cơ sở hạ tầng quá tải và hệ thống luật pháp phức tạp.

Ngay cả Đài Loan, trung tâm công nghệ phát triển với rất ít nỗi lo liên quan đến hệ thống cơ sở hạ tầng, lại phải đối mặt với những rủi ro chính trị, Salmi cho biết. “Các công ty thấy rõ rủi ro khi tập trung chuỗi cung ứng vào một quốc gia, vùng lãnh thổ nhất định. Một cơn động đất hoặc một cuộc chiến tranh tại Đài Loan có thể xóa sổ ngành sản xuất chất bán dẫn của thế giới chỉ trong vòng một đêm”.

Các chuyên gia chỉ ra ngành sản xuất “chắp vá” của Mỹ sẽ không tạo ra nhiều việc làm như các chính trị gia mong đợi. Chris Rogers, chuyên gia chuỗi cung ứng toàn cầu tại S&P Global Market Intelligence Panjiva, nhấn mạnh trường hợp của sản phẩm máy giặt Samsung được sản xuất tại South Carolina. Nhà máy trị giá 380 triệu USD chỉ tạo ra 800 việc làm.

“Sẽ có những công việc mới được tạo ra nhưng đi cùng với đó là sự phát triển của các công nghệ tự động hóa”, ông cho biết. “Thời điểm hiện tại không giống như khi mà các công ty rời bỏ Mỹ để dịch chuyển sang châu Á”.

Trong bối cảnh các sự kiện toàn cầu gần đây đã làm lộ rõ ra những điểm yếu trong việc chuyển hoạt động sản xuất ra nước ngoài, đồng thời làm sôi sục thêm thêm giấc mơ về sự phục hưng của nền sản xuất Mỹ, các chuyên gia lại cho rằng chuỗi cung ứng đang phải đối mặt với áp lực chi phí khủng khiếp.

Khảo sát gần đây được thực hiện bởi CivicScience Tariff Monitor cho thấy có tới 2/3 người Mỹ tham gia lo lắng về hàng rào thuế quan đang ngày một nâng cao, và các chính sách thương mại không ổn định, 23% người tham gia cho biết họ đang cắt giảm chi tiêu. Những thống kê trên sẽ trở nên rõ nét hơn trong bối cảnh tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ đang ở mức cao kỷ lục.

“Sức mua của người dân đã giảm sút” khi giá cả liên tục leo thang, theo Van den Bossche. Ông thúc giục các công ty phải thận trọng hơn. “Và phần lớn các công ty đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc. Rút khỏi một trong những thị trường tiêu dùng lớn nhất trên thế giới quả thực không phải là một quyết định sáng suốt”.

Trong những tháng đầu đại dịch Covid-19, việc thiếu hụt nguồn khẩu trang và các thiết bị bảo hộ sản xuất trong nước, khi phải phụ thuộc rất lớn vào các nhà cung cấp thiết bị y tế nước ngoài, khiến cho quan điểm chính trị thu hút các công ty hồi hương lại trở nên sục sôi hơn bao giờ hết.

“Đó không phải là vấn đề”, Francisco Sanchez, chủ tịch của CNS Global Advisors, đồng thời là cựu quan chức Bộ Thương mại Mỹ, cho biết, đề cập các chuỗi cung ứng. “Chúng ta đã không dự trữ đủ”.

Một vài người đặt ra câu hỏi về một viễn cảnh tồi tệ khi các doanh nghiệp trở nên quá vội vàng trong việc tháo chạy khỏi những hệ thống thương mại tích hợp toàn cầu.

“Phân tách, khi bạn phân tích sâu về từ khóa này, thực sự có ý nghĩa gì? Rằng bạn sẽ tham gia và phá vỡ tất cả các mỗi liên hệ?”, Anjoran đặt câu hỏi.

“Bạn phải rất cẩn thận với từ khóa này. Bạn có thực sự muốn các nền kinh tế tách rời nhau? Nếu như họ có một mối liên hệ, bạn sẽ có lợi ích từ các bên”.

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo