Chủ nhật, 12/4/2020, 11:00 (GMT+7)

Huawei sảy chân vào vòng xoáy chiến tranh công nghệ Mỹ - Trung thế nào

Sự khác biệt về văn hóa, một số bước đi sai lầm của Huawei trong những ngày đầu hoạt động ở thị trường Mỹ và chính là sự thiếu tin tưởng của Washington vào Bắc Kinh là nguồn cơn của vấn đề.

Ông Nhậm, từng tham gia các chương trình đào tạo kỹ năng quản lý tại các công ty công nghệ hàng đầu Mỹ như IBM, nỗ lực tìm đường đưa Huawei xâm nhập vào thị trường Mỹ từ những năm 2000. Tuy nhiên, quá trình này không mấy suôn sẻ do công ty của ông luôn vấp phải làn sóng phản đối đến từ các nhà lập pháp Mỹ, những người luôn mang quan điểm Huawei có liên quan mật thiết đến các hoạt động tình báo của chính phủ Trung Quốc.

Tháng 1/2018, Huawei cuối cùng cũng chứng kiến những nỗ lực suốt bao năm “đến ngày hái quả”.

Giám đốc sản phẩm Richard Yu được chọn làm người phát biểu chính trong Triển lãm điện tử tiêu dùng (CES), tổ chức tại thành phố Las Vegas. Ông dự định công bố với toàn thế giới rằng “ông lớn” trong ngành viễn thông của Mỹ AT&T sẽ sớm cho chính thức phân phối các sản phẩm điện thoại thông minh của Huawei. Đây là một thương vụ hết sức tiềm năng, có thể tạo đường cho Huawei tiếp cận với khoảng 100 triệu người tiêu dùng tại Mỹ bởi giờ đây họ có thêm một lựa chọn trong kế hoạch sử dụng dịch vụ viễn thông.

Thế nhưng, chỉ vài ngày trước khi thương vụ được công bố, thông tin này bị “rò rỉ” và đến tai một số nhà lập pháp Mỹ. Họ lên tiếng hối thúc AT&T phải lập tức chấm dứt quan hệ hợp tác với Huawei. Dưới áp lực đè nặng từ những nhân vật trên, gã khổng lồ viễn thông của Mỹ cuối cùng cũng tạm ngừng thương vụ với Huawei ngay trước khi CES khai mạc.

Vài giờ sau khi thông tin về sự đổ bể này được công bố, Yu gửi tin nhắn đến các phóng viên của South China Morning Post, tỏ vẻ tức giận, cho rằng Huawei “bị hãm hại thêm một lần nữa”. Trong ngày thứ 2 của CES, ông mô tả đây là “sự mất mát to lớn” đối với Huawei nhưng cũng nhấn mạnh người tiêu dùng Mỹ còn thiệt hơn vì họ mất đi cơ hội được sử dụng những thiết bị được phát triển và sản xuất bởi Huawei.

Richard Yu phát biểu tại hội chợ điện tử tiêu dùng quốc tế (IFA) ở Berlin, Đức, hồi tháng 9/2019. Ảnh: EPA-EFE.

Với giới phân tích, vụ đổ bể này là dấu hiệu cho thấy chính quyền Mỹ quyết tâm không bao giờ để Huawei có thể tiến sâu vào thị trường nội địa. Còn đối với Nhậm Chính Phi, đó là bước đi ngược lại với sức mạnh của Mỹ, không chỉ trong lĩnh vực công nghệ, mà còn trên hệ thống luật pháp và sự phân tách quyền lực.

“20 năm rồi nhưng vẫn chưa có những cột mốc đáng nhớ nào của Huawei tại thị trường Mỹ. Chúng tôi vẫn coi Mỹ là một quốc gia hùng cường”, ông Nhậm chia sẻ trong bài phỏng vấn với SCMP hồi tháng 3.

“Chúng tôi nỗ lực phát triển để có được thành quả như ngày hôm nay. Chúng tôi sẽ không thay đổi bản chất của mình trong quãng đường phát triển sắp tới”.

Có lẽ, cuộc “đụng độ” này là không thể tránh khỏi, trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng lớn mạnh. Thu nhập bình quân đầu người của quốc gia đông dân nhất thế giới tiệm cận 10.000 USD/người, gấp 40 lần so với 30 năm trước, theo thông tin từ Ngân hàng Thế giới (WB). Trong quá trình phát triển thần tốc này, hàng loạt công ty công nghệ lớn ra đời. Ngoài Huawei, những cái tên đình đám khác gồm Tencent, Alibaba và DJI.

Trong năm 2017, Tổng thống Mỹ Donald Trump “châm ngòi” cho cuộc chiến trải dài trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, tiền tệ và công nghệ. Trong đó nổi bật nhất là Mỹ phạt công ty ZTE của Trung Quốc với số tiền lên đến 1,19 tỷ USD với cáo buộc công ty này vi phạm lệnh cấm vận. Đây được coi là lời cảnh báo đối với nhiều công ty Trung Quốc khác, trong đó có Huawei.

Chính quyền Mỹ sau đó cũng tỏ ra khá cương quyết trong việc cáo buộc Huawei là một mối đe dọa tới nền an ninh quốc phòng của Mỹ cũng như các quốc gia đồng minh. Trong khi đó, phía Trung Quốc và Huawei lại coi đây là một hành động nhằm lật đổ thế thống trị của Huawei với tư cách là một “ông hoàng” công nghệ mới.

7 tháng sau quyết định của AT&T, Washington chỉ thị các cơ quan chính phủ không được phép mua và sử dụng những thiết bị và dịch vụ phát triển bởi Huawei.

Tháng 12/2018, giám đốc tài chính của Huawei Mạnh Vãn Chu, con gái cả nhà sáng lập Nhậm Chính Phi, bị bắt tại Canada theo yêu cầu từ phía Mỹ, cáo buộc bà có hành vi gian lận trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Một vài tháng sau, năm 2019, gã khổng lồ công nghệ của Trung Quốc thậm chí còn kiện chính quyền Mỹ lên tòa án quốc tế.

Ông Nhậm Chính Phi tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) ở Davos, Thụy Sĩ, hồi tháng 1. Ảnh: AFP.

Đòn giáng mạnh nhất lên Huawei đến vào tháng 5/2019, khi Washington đưa Huawei vào “danh sách đen” thương mại, qua đó cấm công ty này thực hiện các hoạt động thương mại với các doanh nghiệp của Mỹ.

Điều này có nghĩa là Huawei sẽ không thể mua các linh kiện phần cứng như chất bán dẫn, bị từ chối sử dụng các phần mềm trong hệ sinh thái của Google trên nền tảng hệ điều hành Android, qua đó, đe dọa nghiêm trọng đến doanh số bán điện thoại ngoài Trung Quốc của công ty. Khách hàng tất nhiên không muốn sử dụng một chiếc điện thoại thông minh nhưng không thể truy cập vào Google, Gmail hay YouTube.

Những rạn nứt giữa Huawei và Mỹ còn liên quan đến hệ thống mạng không dây thế hệ thứ 5 (5G). Đây được đánh giá là công nghệ xương sống ứng dụng trong hệ thống internet vạn vật, dữ liệu lớn và sản xuất thông minh, dự kiến được sử dụng rộng rãi trong năm 2020.

Huawei đang là công ty cung cấp thiết bị viễn thông lớn nhất trên thế giới. Đây cũng là công ty đi đầu trong việc nghiên cứu và phát triển mạng 5G, bỏ xa các công ty nổi tiếng khác như Nokia, Ericsson và ngay cả đối thủ nội địa ZTE.

Mỹ hiện thiếu những ứng viên sáng giá trong cuộc chạy đua này sau sự rút lui của Lucent Technologies và tỏ ra miễn cưỡng nhìn Trung Quốc tiến gần hơn đến ngôi vị thống trị mạng viễn thông 5G. Mỹ liên tục gia tăng các biện pháp gây bất lợi cho các công ty Trung Quốc, đồng thời liên tục “đánh tiếng” đến các đồng minh của mình rằng các thiết bị cung cấp bởi Huawei không an toàn.

Tuy nhiên, điều này không thể khiến Anh chùn bước khi đưa ra quyết định cho phép các thiết bị của Huawei được sử dụng “có giới hạn” trong hệ thống 5G của quốc gia này. Đây là tín hiệu tích cực đối với Huawei tại thị trường châu Âu, thị trường lớn thứ 2 của công ty sau Trung Quốc đại lục, nếu như các quốc gia thành viên khác cũng có những động thái tương tự như của Anh.

Nhưng tại sao mối quan hệ giữa Mỹ và Huawei lại trở nên căng thẳng như vậy?

Các cuộc trao đổi với các cựu và nhân viên hiện tại của Huawei, quan chức chính phủ Mỹ, chuyên gia phân tích, chỉ ra rằng sự khác biệt về văn hóa, một số bước đi “sai lầm” của Huawei trong những ngày đầu hoạt động ở thị trường Mỹ, và quan trọng nhất đó chính là sự thiếu tin tưởng của Washington vào hệ thống chính trị tại Trung Quốc là nguồn cơn của vấn đề.

Năm 2001, Charlie Chen, một lãnh đạo của Huawei thành lập văn phòng đầu tiên tại Mỹ. Thời gian này Huawei gặp rất nhiều khó khăn khi không thể thuyết phục khách hàng sử dụng sản phẩm và dịch vụ của công ty. Khách hàng Mỹ tại thời điểm đó không có nhiều người biết đến sự hiện diện của công ty, thậm chí họ còn không biết cách phát âm tên công ty như thế nào cho đúng.

Hai năm sau, Huawei lập công ty liên doanh với 3Com, một công ty của Mỹ, nhằm cung cấp các sản phẩm mạng lưới nội bộ doanh nghiệp. Tuy nhiên, không lâu sau đó, công ty đã vướng phải một vụ kiện cáo buộc họ đã sao chép mã nguồn từ các phần mềm router của Cisco. Chưa dừng lại ở đó, Huawei còn vướng vào một vụ lùm xùm khác liên quan đến cáo buộc “ăn cắp” mã IP của Motorola. Hai sự việc này đã khiên cho uy tín của Huawei tại thị trường Mỹ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Các cựu nhân viên Huawei cho biết vụ kiện liên quan đến Cisco chính là điều khiến khách hàng tiềm năng của công ty luôn trăn trở khi tính đến chuyện hợp tác. Trong suốt thập kỷ sau đó, Huawei vẫn chưa thể thoát khỏi những lời chỉ trích liên quan đến việc “ăn cắp” tài nguyên từ đối thủ, cho dù cả hai công ty sau đó đã tự thỏa thuận với nhau năm 2004.

Năm 2005, 4 năm sau khi Huawei có mặt tại Mỹ và tổng thống Mỹ lúc bấy giờ George W. Bush đang ở nhiệm kỳ thứ hai, một báo cáo RAND thực hiện bởi Không quân Mỹ cho biết Huawei “có mối quan hệ mật thiết đối với quân đội Trung Quốc”, và công ty này nhận được rất nhiều hỗ trợ từ Bắc Kinh

Huawei liên tục bác bỏ những cáo buộc trên và khẳng định họ chỉ là doanh nghiệp tư nhân thông thường. Trên thực tế, ông Nhậm Chính Phi phát biểu vào năm 2019 rằng ông thà đóng cửa công ty còn hơn chia sẻ những thông tin khách hàng nhạy cảm với chính phủ Trung Quốc.

Tuy nhiên, một số người hoài nghi vẫn chưa cảm thấy thuyết phục.

“Nếu Trung Quốc muốn các công ty của họ được đối xử giống như những công ty quốc tế khác, dựa trên những công nghệ mà họ cung cấp chứ không dựa trên việc công ty đó đặt trụ sở ở đâu, họ cần phải thay đổi lại hệ thống pháp luật nhằm cho những quốc gia khác thấy rằng những mối quan hệ giữa các doanh nghiệp Trung Quốc và chính phủ được tách bạch”, theo Michael Wessel, thành viên của Hội đồng đánh giá an ninh kinh tế Trung - Mỹ.

Báo cáo RAND cũng khiến cho nhiều công ty của Mỹ trở nên đề phòng hơn đối với Huawei. Nỗ lực của Huawei sau đó nhằm mua lại cổ phần của 3Com đã đổ bể trong năm 2008 do các nhà lập pháp bày tỏ quan ngại liên quan đến việc mối quan hệ giữa Huawei và quân đội Trung Quốc.

Mỹ hiện thiếu những ứng viên sáng giá trong cuộc chạy đua 5G. Ảnh: Nikkei Asian Review.

Nhưng sự kiện thực sự khiến Washington “mất thiện cảm” với Huawei diễn ra vào năm 2010, theo các quan sát viên trên lĩnh vực công nghệ, viễn thông. Trong năm đó, Huawei đang nỗ lực chạy đua để dành được hợp đồng nâng cấp hệ thống mạng điện thoại của công ty viễn thông Sprint.

“Các chính trị gia bài Trung Quốc, được hậu thuẫn bởi các quan chức quốc phòng và tình báo, bên cạnh đó còn là các đối thủ của chính Huawei, đã dồn một cuộc tấn công tổng lực vào Huawei, qua đó nối dài thêm sự hiểu nhầm của công chúng đối với Huawei, vốn đã được khơi nguồn từ lâu trước đó”, theo Bill Plummer, cựu phó chủ tịch đối ngoại chi nhánh Huawei tại Mỹ giai đoạn 2010 - 2018.

Để chứng minh sự minh bạch, Huawei yêu cầu chuyển thiết bị của họ qua một bên thứ 3 để kiểm tra các sản phẩm phần cứng, phần mềm của công ty một cách độc lập, trước khi chuyển lại cho Sprint.

Bên cạnh đó, Huawei cũng đã thuê The Cohen Group, được thành lập bởi cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ William Cohen nhằm mục đích đàm phán với người đứng đầu giám đốc cơ quan tình báo quốc gia để xây dựng nên một cơ chế, qua đó Huawei có thể tuân theo trong quá trình cung cấp các thiết bị, sản phẩm và dịch vụ tại thị trường Mỹ.

Khi Huawei độc lập công bố rằng bên thứ 3 mà công ty lựa chọn là Amerilink, một công ty được điều hành bởi cựu CEO của Nortel William Owens, điều đó đã gián tiếp hủy hoại các cuộc đàm phán giữa The Cohen Group với Washington. Kết quả, chính quyền Mỹ coi Huawei là một công ty không đáng tin cậy và tương lai các cuộc đàm phán bắt đầu đổ vỡ khi Amerilink được điều tra là có mối quan hệ mật thiết đối với Huawei.

“Cho dù Huawei tỏ ra rất thiện chí trong thương vụ này, Amerilink lại chính là ‘cột thu lôi’ bị các thế lực thù địch về cả chính trị và kinh tế nhắm vào nhằm đánh bật Huawei ra khỏi thương vụ hợp tác với Sprint”, Plummer viết trong cuốn sách của ông.

Huawei luôn hành động độc lập cho cho dù tham khảo ý kiến từ các chuyên gia tư vấn. Đó chính là hành vi được nhìn thấy trước bởi các nhân viên tại thị trường nước ngoài của công ty này. Một vài cựu nhân viên của công ty làm việc ngoài Trung Quốc chia sẻ họ thiếu sự chủ động trong việc ra các quyết định. Trụ sở của công ty tại Thâm Quyến mới là nơi quyết định cuối cùng được đưa ra, cho dù nhiều khi những quyết định đó đi ngược lại với những khuyến cáo đến từ các chuyên gia nghiên cứu thị trường, ví dụ như tại Mỹ.

Mối quan hệ giữa Huawei với Amerilink thậm chí còn mang lại những hệ quả khác.

Trong năm 2011, Hội đồng vốn đầu tư nước ngoài Mỹ (CFIUS), cơ quan chuyên quản lý các giao dịch quốc tế với mục đích đảm bảo rằng các giao dịch này không gây nguy hại đến hệ thống an ninh quốc phòng, yêu cầu Huawei phải thoái vốn tại một công ty khởi nghiệp nhỏ của Mỹ có tên 3 Leaf Systems.

Việc Huawei không công bố rộng rãi thương vụ này được coi như là vi phạm nghiêm trọng đối với các cơ quan chức năng cho dù công ty này phân trần rằng điều đó là không cần thiết đối với thương vụ nhỏ như vậy.

Huawei ban đầu phản đối quyết định của CFIUS khi cho rằng điều đó sẽ “làm tổn hại đến thương hiệu và danh tiếng của công ty”, đồng nghĩa với việc quyền quyết định cuối cùng sẽ nằm trong tay của tổng thống Mỹ khi đó là Barack Obama. Tuy nhiên sau đó công ty đã chấp thuận phương án thoái vốn.

Trong tháng 10/2012, Ủy ban tình báo thượng viện Mỹ công bố một báo cáo, kết quả của cuộc điều tra kéo dài một năm đối với Huawei và ZTE, qua đó khẳng định hai công ty trên được coi là mối đe dọa đến nền quốc phòng an ninh vì những thiết bị của họ có thể được sử dụng cho mục đích theo dõi các công dân Mỹ thông qua hệ thống liên lạc cá nhân. Huawei đã nhiều lần bác bỏ kết luận này.

Báo cáo cũng đưa ra khuyến nghị các công ty Mỹ không được thực hiện bất cứ một thương vụ mua bán, sáp nhập nào trên lãnh thổ Mỹ có liên quan đến hai công ty kể trên, đồng thời khuyên chính phủ không nên sử dụng các thiết bị của Huawei và ZTE.

“Tại thời điểm đó, Huawei cảnh báo các nhân viên của mình tại Mỹ rằng FBI có thể đến bất cứ lúc nào để tìm kiếm sự hợp tác trong quá trình điều tra”, theo lời một cựu nhân viên Huawei. “FBI có thể sẽ có những trao đổi thường xuyên đối với những nhân viên liên quan đến các thương vụ mua bán và sáp nhập”.

5 năm sau, Huawei đã vài lần được nhắc tới trong một báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ về việc các khoản đầu tư từ Trung Quốc trên lĩnh vực công nghệ có thể giúp Bắc Kinh có thể dễ dàng tiếp cận hơn với các sáng chế khoa học của Mỹ. Bản báo cáo đã thu hút được sự chú ý của rất nhiều các nhà lập pháp khi lần đầu được trình lên quốc hội.

Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa Marco Rubio, luôn chỉ trích Huawei và hệ thống chính trị của Trung Quốc, chia sẻ với các phóng viên rằng “sự hiện diện của Huawei và các hành vi kinh tế phi thị trường của Trung Quốc trong thị trường viễn thông đang bóp nghẹt sự phát triển của các doanh nghiệp chân chính khác. Ngay cả Nokia, Ericsson và Samsung cũng không thể cạnh tranh với Huawei khi cái giá mà họ áp cho sản phẩm của mình không hề bao gồm chi phí”.

“Chúng ta phải dừng ngay việc nghĩ rằng các công ty như Huawei, đã nhận trợ cấp lên đến 75 tỷ USD và các gói hỗ trợ tài chính khác từ chính phủ Trung Quốc, không khác gì những công ty tư nhân khác đang hoạt động tại Mỹ, và sự lớn mạnh của những công ty như vậy đơn thuần chỉ đến từ những thành công trong suốt quá trình kinh doanh”, ông cho biết.

Đối với ông Nhậm Chính Phi, người luôn tỏ ra ngưỡng mộ văn hóa doanh nghiệp của Mỹ và thường được nhìn thấy sử dụng các sản phẩm của Apple, cuộc chiến giữa Mỹ và Huawei không đại diện cho ý chí người dân của một quốc gia.

“Những lệnh cấm vận được thông qua chỉ bởi một bộ phận nhỏ những người nắm quyền lực. Họ không đại diện cho toàn bộ người dân Mỹ hay các công ty Mỹ”, ông chia sẻ.

Trọng Đại - theo SCMP

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo