Thứ bảy, 31/10/2020 | 15:19 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Bầu cử tổng thống Mỹ 2020 Kết quả kinh doanh quý III/2020 Doanh nhân Việt Nam BĐS khu công nghiệp 20 năm thị trường chứng khoán Việt Nam
Thứ bảy, 19/9/2020, 14:50 (GMT+7)

Cuộc khủng hoảng tiếp theo có thể là trong ngành thực phẩm

Đỗ Hiền (Theo Financial Times) Thứ bảy, 19/9/2020, 14:50 (GMT+7)

Rana Foroohar là cây viết bình luận doanh nghiệp toàn cầu, trợ lý biên tập viên tại Financial Times. Trước đó, cô là nhà phân tích kinh tế toàn cầu của CNN, từng làm việc tại TIME, Newsweek. Dưới đây là bài viết “Cuộc khủng hoảng dưới chuẩn tiếp theo có thể là trong ngành thực phẩm” của cô đăng trên Financial Times.

Trong số rất nhiều hậu quả mà Covid-19 gây ra, có ba vấn đề dễ nhận thấy nhất là mất an ninh lương thực, sự sụp đổ của các doanh nghiệp nhỏ và sự biến động của thị trường tài sản.

Mọi thứ có thể còn tồi tệ hơn nữa do một động thái tài chính bất ngờ song có sức tác động mạnh mẽ. Các ngân hàng lớn, bao gồm cả những cái tên như ABN Amro, ING và BNP Paribas, đang đồng loạt rút lại các khoản hỗ trợ thương mại hoặc thu hẹp quy mô những khoản hỗ trợ này. Hậu quả là tạo ra một lỗ hổng tài chính với các nông dân, nhà sản xuất và phân phối nông sản, chuỗi cửa hàng tạp hóa cũng như các công ty vừa và nhỏ vốn đang đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng thực phẩm toàn cầu.

Theo ông Michael Greenberger, giáo sư luật Đại học Maryland, cựu giám đốc thương mại và thị trường thuộc Ủy ban giao dịch hàng hóa tương lai Mỹ, vấn đề này chỉ là phần nổi của tảng băng chìm khổng lồ bên dưới các thị trường tài chính, thứ mà chúng ta không thấy nhưng lại vẫn đang và sẽ phải đối mặt.

Khi những công ty nông nghiệp cấp hai và cấp ba – vốn phụ thuộc vào các nguồn tài chính để phân phối, sản xuất cũng như phòng ngừa rủi ro về giá trong một thị trường dễ biến động – không thể tiếp cận với các khoản hỗ trợ thương mại hoặc buộc phải chịu lãi suất cao hơn từ các cá nhân, doanh nghiệp cấp “tín dụng đen”, giá thực phẩm chắc chắn sẽ tăng vọt. Giáo sư Greenberger cũng lưu ý rằng, chỉ trong vòng vài tháng tới, tỷ lệ tập trung hóa và rủi ro thị trường sẽ tăng lên.

Do chu trình tăng trưởng của cây trồng kéo dài tới vài tháng, và trong khoảng thời gian đó, giá có thể biến động dữ dội nên “tất cả các nhà sản xuất thương mại đều phải phòng ngừa rủi ro bằng cách mua hợp đồng tương lai,” giáo sư Greenberger cho hay. Và để làm được điều đó, họ có thể cần tới các khoản hỗ trợ thương mại trong ngắn hạn.

Nếu các ngân hàng chỉ sẵn sàng cho vay với những doanh nghiệp lớn và lâu đời nhất - ví dụ như các nhà kinh doanh hàng hóa toàn cầu Vitol Group, Trafigura và Mercuria, hay những gã khổng lồ trong ngành nông nghiệp Mỹ như Cargill, ADM hoặc Bunge, vậy các nhà sản xuất vừa và nhỏ sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc tìm đến các “tài chính ngầm”.

Đây là một thực tế vốn đã trở nên phổ biến lâu nay. Điều này, đi kèm với sự thiếu minh bạch do không có trung tâm thanh toán bù trừ với những thỏa thuận tương tự, khiến những người cho vay rất khó xác định các thông tin có liên quan, ví dụ như liệu người đi vay có sử dụng cùng một tài sản thế chấp để cầm cố nhiều lần hay không.

một sự gián đoạn khác trong chuỗi cung ứng sẽ gây ra tình trạng hỗn loạn và mất an ninh lương thực ngay cuối năm nay

An ninh lương thực thế giới có thể gặp bất ổn vào cuối năm nay. Ảnh: Reuters.

Nhiều dấu hiệu cho thấy nguy cơ rủi ro đang ngày một hiện hữu. Một loạt bê bối giao dịch hàng hóa tại Singapore hồi đầu năm  – bao gồm cả vụ việc tập đoàn Hin Leong Trading che giấu khoản lỗ lên tới 800 triệu USD – đã làm rõ một thực tế rằng đây không chỉ là vấn đề gian lận thông thường, mà hơn thế, sự mờ mịt, các đòn bẩy và biến động trong lĩnh vực hàng hóa đang khiến ngành kinh doanh này trở thành một thị trường đầy rủi ro đối với các ngân hàng lớn.

Do những áp lực đã phải gánh chịu từ trước, cùng với đó là yêu cầu gia tăng tỷ lệ an toàn vốn theo quy định quốc tế để chống đỡ với những tác động từ đại dịch, có thể hiểu tại sao rất nhiều ngân hàng đã quyết định rút lui, hoặc chỉ giao dịch với những khách hàng lớn có nền tảng tài chính vững mạnh.

Điều này đồng thời cũng làm trầm trọng thêm một xu hướng nảy sinh do tác động của Covid-19, đó là các tập đoàn lớn nhất đang ngày một trở nên lớn mạnh hơn. Thực tế này vốn diễn ra trong ngành nông nghiệp cũng như rất nhiều lĩnh vực khác từ trước khi đại dịch bùng phát. Song Covid-19 bộc lộ rõ những lỗ hổng của sức mạnh độc quyền trong ngành thực phẩm, tạo ra tình trạng một số khu vực thì dư thừa nguồn cung, trong khi nhiều nơi khác lại rơi vào khan hiếm và do đó đẩy giá hàng hóa tăng cao.

Một nhóm các công ty lớn đang kiểm soát những lĩnh vực như đóng gói thịt và sản xuất ngũ cốc thường chỉ làm việc với một kiểu nhà phân phối, ví dụ như các nhà hàng, thay vì những cửa hàng tạp hóa. Kết quả là một hệ thống “hiệu quả” về mặt kinh tế, nhưng đồng thời cũng rất yết ớt, mong manh đã được tạo ra.

Giáo sư Greenberger cũng như một số chuyên gia phân tích tin rằng việc các ngân hàng rút lại những khoản tài trợ thương mại có thể khiến sự yếu ớt, mong mạnh này càng thêm rõ ràng.

“Điều đáng lo ngại đầu tiên là khả năng mua các hợp đồng tương lai – liệu các nhà sản xuất nhỏ có phải trả nhiều tiền hơn cho cùng một hợp đồng so với trước đây hay không? Và tại thời điểm thực hiện hợp đồng, nếu thị trường đi ngược lại dự đoán của bạn, liệu bạn có thể thực hiện việc thanh toán ký quỹ hay không?”.

Nếu câu trả lời là không, có thể dễ dàng dự đoán được rằng một sự gián đoạn khác trong chuỗi cung ứng sẽ gây ra tình trạng hỗn loạn và mất an ninh lương thực ngay cuối năm nay. Điều này cũng đồng thời có thể dẫn tới biến động lớn trên thị trường khi một nhóm vừa đủ các công ty nông nghiệp có đòn bẩy tài chính cao cùng lúc ngừng hoạt động.

Sự ra đi của các nông hộ nhỏ không chỉ có tác động trực tiếp đến những doanh nghiệp trong những khâu có liên quan khác, bao gồm đóng gói, sản xuất và vận chuyển, mà khoản nợ của những nông hộ này – nhất là khi được chuyển thành các sản phẩm chứng khoán hóa – có thể gây nên nguy cơ rủi ro thị trường trên diện rộng.

Ít nhất, với đa số các nhà sản xuất, khi chi phí đi vay cao hơn thì việc giá lương thực thực phẩm tăng lên dường như là kết luận không thể bàn cãi. Đây sẽ không phải là một tin tức tốt đẹp gì, nhất là với những người tiêu dùng thất nghiệp đang phải vật lộn để kiếm sống.

Điều này cũng nhấn mạnh một vấn đề quan trọng, đó là hậu quả của sự gián đoạn giá hàng hóa không chỉ tác động lên nền kinh tế. Đó đồng thời cũng là một vấn đề chính trị bởi bất ổn xã hội thường nảy sinh khi giá lương thực, nhiên liệu đột ngột tăng mạnh. Như tại Mỹ, việc giá dầu leo thang chóng mặt hồi năm 2011 dẫn đến các cuộc điều trần xung quanh câu hỏi các vấn đề của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, trong đó bao gồm cả những giao dịch rủi ro của các ngân hàng lớn, liệu đã thực sự được giải quyết hay chưa.

Trong một thập kỷ qua, các ngân hàng lớn đã có sự phát triển mạnh mẽ, bất chấp không ít hạn chế được đưa ra. Giờ đây, các nhà giao dịch hàng hóa cũng như những tập đoàn nông nghiệp lớn đang có cơ hội tương tự. Trong khi đó, những doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác có thể sẽ không được may mắn như vậy.

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo