Chủ nhật, 3/1/2021, 07:00 (GMT+7)

Covid-19 thay đổi mãi mãi kinh tế thế giới thế nào

Những hệ quả từ đại dịch Covid-19 sẽ định hình cách chúng ta làm việc, chi tiêu, đi lại và nhiều vấn đề nữa trong những năm sắp tới.

Ảnh: Bloomberg.

Những cú sốc kinh tế như đại dịch Covid-19 nổ ra năm 2020 xuất hiện không nhiều, tuy nhiên, chúng mang lại những thay đổi sâu đậm và kéo dài.

Tính trên GDP, nền kinh tế thế giới đang cho thấy những dấu hiệu phục hồi từ một trong những cuộc khủng hoảng tệ đến mức hầu hết toàn bộ 7,7 tỷ người dân trên toàn cầu ở thời điểm hiện tại chưa từng gặp phải. Công tác sản xuất và tiêm chủng vaccine sẽ thúc đẩy kinh tế trong năm 2021. Tuy nhiên, những hệ quả dịch bệnh Covid-19 để lại sẽ góp phần hình thành nên xu hướng tăng trưởng toàn cầu trong nhiều năm tới.

Một vài xu hướng có thể được nhìn thấy cách rõ ràng. Robot sẽ xuất hiện ngày càng nhiều trong các nhà máy, đảm nhiệm nhiều công việc, dịch vụ thay thế cho con người, trong khi đó, dân văn phòng cũng sẽ ở nhà nhiều hơn thay vì đến văn phòng làm việc như trước. Sẽ xuất hiện sự bất bình đẳng giữa và trong các quốc gia.

Chính phủ các nước sẽ đóng vai trò quan trọng hơn trong việc định hình cuộc sống người dân, chi tiêu nhiều hơn và kéo theo đó là hệ quả tăng trưởng nợ công. 

Sự can thiệp của chính phủ

Vị thế của các chính phủ ngày càng được nâng tầm. Giờ đây, việc các chính phủ nắm giữ những thông tin của người dân như nơi họ đã đi, người họ đã gặp không còn xa lạ. Chính phủ thậm chí còn trả lương cho người dân khi chủ sử dụng lao động không thể làm được điều đó. Tại các quốc gia nơi các ý tưởng thị trường tự do đã lên ngôi trong nhiều thế kỷ qua, những chiếc “lưới cứu nạn” cần phải được “vá” lại.

Các chính phủ sẵn sàng chịu thâm hụt ngân sách để bảo vệ nền kinh tế khỏi đại dịch Covid-19.

Để có thể làm được những điều trên, các chính phủ thậm chí đã chấp nhận mức thâm hụt ngân sách lên tới 11.000 tỷ USD chỉ tính trong năm 2020, theo McKinsey & Co. Xuất hiện những tranh luận đà chi tiêu mạnh này sẽ tiếp tục kéo dài trong bao lâu và khi nào người nộp thuế mới thực hiện nghĩa vụ của họ?

Ít nhất là tại các nền kinh tế phát triển, lãi suất rất thấp và các thị trường tài chính ổn định cho thấy sẽ ít có khả năng có một cuộc khủng hoảng trong ngắn hạn.

Nhưng trong dài hạn, quá trình đánh giá lại đang thay đổi quan niệm của nhiều người về nợ công. Quan điểm mới cho rằng các chính phủ sẽ có nhiều dư địa chi tiêu hơn trong một thế giới với lạm phát thấp và nên sử dụng các chính sách tài khóa một cách chủ động hơn để lèo lái nền kinh tế. Những người tán thành thuyết tiền tệ hiện đại cho biết họ đã đi tiên phong trên những tranh cãi trên và xu hướng xã hội hiện tại đang dần bắt kịp.

Tiền 'dễ'

Các ngân hàng trung ương đang cho in thêm nhiều tiền hơn. Lãi suất xuống thấp kỷ lục. Các quan chức ngân hàng trung ương đang đẩy mạnh những biện pháp nới lỏng định lượng, cho phép họ mua lại nhiều hơn khoản nợ công và nợ doanh nghiệp.

Các quốc gia giữ nguyên, tăng hoặc giảm lãi suất trên thế giới.

Tất cả biện pháp can thiệp trên tạo ra điều kiện tài chính thuận lợi nhất từng được ghi nhận trong lịch sử và mở ra một trào lưu đầu tư đầu cơ, điều khiến nhiều chuyên gia phân tích cảm thấy lo lắng về những rủi ro đạo đức trong tương lai. Nhưng chính sách của các ngân hàng trung ương sẽ rất khó để có thể rút lại, nhất là trong bối cảnh thị trường lao động đang bị bẻ gãy và các công ty tiếp tục tư tưởng tiết kiệm gần đây của họ.

Và lịch sử đã chứng minh rằng dịch bệnh sẽ đè nén lãi suất ở mức thấp trong một khoảng thời gian dài, theo một bài báo được phát hành trong năm nay. Bài báo đó chỉ ra rằng 25 năm sau khi dịch bệnh bùng nổ, lãi suất thường thấp hơn 1,5 điểm phần trăm so với mức thực tế không có dịch bệnh.

Nợ và xác sống

Các chính phủ tung ra các gói tín dụng trong suốt đại dịch và giới doanh nghiệp nắm lấy cơ hội. Một hệ quả đó chính là sự tăng lên nhanh chóng của nợ công tại nhóm quốc gia phát triển. Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) tính toán rằng các công ty phi tài chính đã vay nợ lên tới 3.360 tỷ USD chỉ trong vòng 6 tháng đầu năm 2020.

Các "công ty xác sống" đang có nghĩa vụ trả nợ lên đến gần 2.000 tỷ USD.

Với việc doanh thu sụt giảm trong nhiều ngành công nghiệp do các biện pháp phong tỏa hoặc sự cẩn trọng của người tiêu dùng, và các khoản thua lỗ đang xuất hiện ngày càng nhiều trên bảng cân đối kế toán doanh nghiệp, các điều kiện tạo nên nên một “cuộc khủng hoảng khả năng thanh toán lớn” đã được hội tụ, theo một báo cáo mới đây.

Một vài người còn thấy sự nguy hiểm khi chính phủ trao quá nhiều hỗ trợ cho các công ty, với quá ít sự đánh giá xem công ty nào nên nhận khoản hỗ trợ đó. Họ cho rằng đó chính là công thức để hình thành nên những “công ty xác sống” - tên gọi những công ty không thể tồn tại trong một thị trường tự do và chỉ có thể duy trì hoạt động dưới sự trợ giúp của chính phủ. Điều đó sẽ kéo giảm năng suất của nền kinh tế.

Chia rẽ lớn

Những tranh cãi về biện pháp cứu trợ dường như chỉ là câu chuyện của các quốc gia giàu có. Các quốc gia nghèo khó lại thiếu đi nguồn lực cần thiết để có thể bảo vệ việc làm cho người dân cũng như duy trì sự tồn tại của các doanh nghiệp, hoặc đầu tư vào công tác nghiên cứu và phát triển vaccine, giống như những gì mà những quốc gia giàu có hơn đã thực hiện trong suốt thời gian qua. Họ sẽ phải “thắt lưng buộc bụng” sớm hơn, nếu không họ sẽ phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tiền tệ, bên cạnh đó là tình trạng vốn thoát khỏi nền kinh tế.

Dự báo tỷ lệ đói nghèo trên thế giới trước khi có Covid-19, kịch bản cơ sở khi có Covid-19 và khi Covid-19 suy giảm.

Ngân hàng Thế giới cảnh báo rằng dịch bệnh sẽ gây ra một thế hệ người nghèo mới và một cuộc khủng hoảng nợ, và Tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF) cũng cho biết rằng các quốc gia đang mạo hiểm với nguy cơ có thể đưa nền kinh tế lâm vào tính trạng khủng hoảng khoảng một thập kỷ trước.

Các quốc gia đang là chủ nợ nằm trong khối G-20 đã có những hành động nhằm giảm nhẹ những khó khăn cho các quốc gia đi vay nghèo khó nhất, tuy nhiên họ bị chỉ trích bởi các tổ chức cứu trợ khi chỉ đưa ra các biện pháp giãn nợ giới hạn và không đưa quyền lợi của các nhà đầu tư vào trong kế hoạch.

Phục hồi hình chữ K

Các công việc thu nhập thấp trong lĩnh vực dịch vụ, nơi nhu cầu giao tiếp trực tiếp với khách hàng luôn ở mức cao, có xu hướng biến mất đầu tiên khi các chính phủ ban hành các biện pháp cách ly xã hội. Và thị trường tài chính, nơi tài sản chủ yếu nằm trong tay giới nhà giàu lại hồi phục nhanh hơn cả thị trường việc làm.

Diễn biến thị trường chứng khoán Mỹ và tỷ lệ thất nghiệp tại nền kinh tế số một thế giới.

Thực trạng trên được giới chuyên môn gọi là “sự phục hồi hình chữ K”. Dịch bệnh khiến cho khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp, chủng tộc và giới ngày một rộng.

Phụ nữ bị ảnh hưởng rất nặng nề, một phần là vì họ hay đảm nhận những công việc trong các lĩnh vực bị ảnh hưởng nhiều bởi đại dịch. Họ cũng phải dành nhiều thời gian hơn để chăm sóc con cái khi các trường học đóng cửa. Tại Canada, tỷ lệ tham gia của phụ nữ vào lực lượng lao động  xuống thấp nhất từ giữa thập niên 1980.

Robot lên ngôi

Dịch bệnh Covid-19 làm dấy lên những lo ngại liên quan tới vấn đề tiếp xúc vật lý trong một số lĩnh vực như bán lẻ, lưu trú và kho bãi, nhất là trong bối cảnh các biện pháp cách ly xã hội được thắt chặt. Một giải pháp cho thực trạng này đó chính là thay thế con người bởi robot.

Số robot công nghiệp trên mỗi 1 tỷ USD sản lượng nhà máy.

Các nghiên cứu chỉ ra rằng lĩnh vực tự động hóa thường có bước phát triển mạnh trong suốt mỗi giai đoạn khủng hoảng. Trong đại dịch lần này, các công ty đẩy mạnh tận dụng máy móc để thực hiện những công việc như đăng ký khách lưu trú, thái salad trong các nhà hàng, hoặc thu phí tại các trạm thu phí. Trong khi đó, việc mua sắm được thực hiện chủ yếu theo hình thức trực tuyến.

Những sáng tạo trên sẽ góp phần làm tăng năng suất của nền kinh tế. Nhưng điều đó cũng có nghĩa rằng khi tình hình dịch bệnh ổn định trở lại, một số công việc sẽ không còn tồn tại nữa. Và một khi người lao động được làm việc, họ sẽ có thể học hỏi được nhiều các kỹ năng hơn, điều mà một số nhà kinh tế học gọi là “hiện tượng trễ”.

Phong cách làm việc mới

Làm việc từ xa dần trở thành điều “bình thường mới” trong đại dịch. Một nghiên cứu chỉ ra rằng 2/3 GDP của Mỹ trong tháng 5/2020 được tạo ra từ những nhân viên làm việc tại nhà. Nhiều công ty cho phép nhân viên có thể làm việc tại nhà cho tới năm 2021, thậm chí một số doanh nghiệp cho biết họ sẽ duy trì hình thức làm việc linh hoạt này trong dài hạn.

Số liệu từ Google cho thấy hoạt động tại công sở vẫn thấp hơn so với thời trước đại dịch.

Làm việc tại nhà gần như đã vượt qua bài kiểm tra về công nghệ, qua đó mang đến cho chủ doanh nghiệp cũng như người lao động những lựa chọn mới. Đó thực sự là mối lo cho những công ty đang phụ thuộc nhiều vào làm việc văn phòng truyền thống, trong các lĩnh vực từ bất động sản cho tới ngành thực phẩm và vận tải.

Tuy nhiên, xu hướng này lại mang đến rất nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp nỗ lực xây dựng một phong cách làm việc mới. Giá cổ phiếu của Zoom, một nền tảng họp trực tuyến, tăng hơn 6 lần trong năm 2020.

Được làm việc tại nhà, cùng với đó là nỗi sợ dịch bệnh, khiến cho nhiều người rời bỏ các thành phố lớn để tới khu vực ngoại ô hoặc vùng nông thôn, và tại một số quốc gia, giá bất động sản tại khu vực nông thôn đã tăng lên nhanh chóng.

Ở yên một chỗ

Một số loại hình di chuyển gần như phải dừng hoạt động hoàn toàn. Giá trị ngành du lịch toàn cầu giảm 72% tính đến tháng 10/2020, theo Liên Hợp Quốc. McKinsey tính toán khoảng 25% các chuyến đi công tác sẽ biến mất mãi mãi khi mà các cuộc họp bây giờ được tổ chức trực tuyến.

Mức suy giảm lượng khách quốc tế trên thế giới qua 10 tháng đầu năm 2020.

Các kỳ nghỉ không thể diễn ra, sự kiện lớn như lễ hội hoặc âm nhạc đều bị hủy, xu hướng nhu cầu trải nghiệm của người tiêu dùng đã và đang bị gián đoạn. Khi các hoạt động đó quay trở lại, chúng cũng sẽ có những khác biệt so với trước.

“Chúng tôi vẫn không thể biết được tương lai của các buổi hòa nhạc”, theo Rami Haykal, đồng sở hữu không gian tổ chức sự kiện Elsewhere tại Brooklyn, New York City, Mỹ. “Mọi người sẽ muốn tới những nơi riêng tư hơn, và tránh những nơi quá đông người”.

Khách du lịch nước ngoài sẽ phải mang theo giấy chứng nhận sức khỏe, bên cạnh đó phải vượt qua nhiều hình thức kiểm soát an ninh mới. China Tech Global, một công ty có trụ sở tại Hong Kong, phát triển sản phẩm buồng chống lây nhiễm di động và đang nỗ lực bán cho các sân bay. Giám đốc điều hành Sammy Tsui cho biết sản phẩm của họ có thể tiêu diệt các virus gây bệnh trên cơ thế và quần áo người dùng chỉ trong chưa đầy 40 giây.

“Bạn sẽ cảm nhận thấy một dòng không khí mát và một chút dung dịch dạng sương. Tuy nhiên, bạn sẽ không bị ướt”, ông chia sẻ.

Xu hướng toàn cầu hóa hoàn toàn khác

Khi các nhà máy tại Trung Quốc tạm thời đóng cửa hồi đầu năm 2020, chuỗi cung ứng trên toàn cầu vấp phải một cú sốc lớn. Điều đó khiến cho các doanh nghiệp cũng như chính phủ các nước phải cân nhắc lại về sự phụ thuộc của họ vào “cái nôi” của nền công nghiệp sản xuất thế giới.

Cái giá phải trả về GDP năm 2050 khi các mối quan hệ toàn cầu được tháo gỡ so với tiến triển.

Ví dụ, NA-KD, Thụy Điển, là một cái tên nổi bật trong ngành công nghiệp “thời trang nhanh”, vốn đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu thông qua việc nắm bắt các xu hướng mạng xã hội hơn là phụ thuộc vào phương thức bán hàng theo mùa truyền thống. Sau khi việc vận chuyển hàng hóa bị đình trệ trong năm 2020, công ty đã chuyển một phần hoạt động sản xuất từ Trung Quốc sang Thổ Nhĩ Kỳ, theo Julia Assarsson, trưởng bộ phận nhập khẩu và hải quan của công ty.

Đó là một ví dụ cho sự thích ứng của quá trình toàn cầu hóa.

Môi trường được chú trọng

Trước đại dịch, các nhà hoạt động vì môi trường thường chỉ quan tâm tới những học thuyết liên “đỉnh dầu” - một ý tưởng cho rằng sự gia tăng số lượng các phương tiện chạy điện có thể sẽ đốt cháy nhu cầu của thế giới về một trong những nhiên liệu gây ô nhiễm nhất.

Nhưng trong năm 2020, một năm  phần lớn các tàu bay tạm ngưng hoạt động, và mọi người ở nhà nhiều hơn, các ông lớn trong ngành dầu mỏ như BP đã thực sự cảm thấy sự đe dọa từ thực tế người dân thế giới đang quan tâm đến môi trường nhiều hơn.

Chính quyền bang California, Mỹ, và chính phủ Anh công bố kế hoạch cấm mua bán các dòng xe chạy xăng và dầu vào năm 2035. Và Tổng thống đắc cử Joe Biden đã đưa ra lời hứa rằng Mỹ sẽ tái gia nhập Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu.

Trọng Đại (Theo Bloomberg)

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo