Thứ bảy, 8/5/2021 | 18:03 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Kết quả kinh doanh quý I/2021 Cuộc khủng hoảng nguồn cung chip toàn cầu ĐHĐCĐ 2021 "Sốt" đất trên cả nước Kế hoạch kinh doanh 2021
Thứ hai, 19/4/2021, 14:33 (GMT+7)

Covid-19 sẽ để lại vết sẹo sâu cho kinh tế toàn cầu

Theo VnExpress Thứ hai, 19/4/2021, 14:33 (GMT+7)

Dù các nước đã tung ra 26.000 tỷ USD hỗ trợ và phát triển vaccine để đẩy nhanh đà phục hồi, hệ quả của việc gián đoạn giáo dục, mất việc làm, khối nợ tăng cao và bất bình đẳng nới rộng sẽ để lại vết sẹo rất lâu lành, chủ yếu cho các nước thuộc nhóm nghèo nhất.

"Sau một năm khủng khiếp, chúng ta sẽ rất dễ cảm thấy nhẹ nhõm khi mọi thứ quay về quỹ đạo ban đầu", Vellore Arthi tại Đại học California cho biết, "Tuy nhiên, rất nhiều hệ quả có thể kéo dài hàng thập kỷ và không dễ dàng giải quyết".

Mức giảm GDP toàn cầu năm ngoái là lớn nhất kể từ Đại suy thoái thập niên 30. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ước tính mức giảm này tương đương 255 triệu lao động toàn thời gian mất việc làm. Các nhà nghiên cứu tại Pew Research thì ước tính số người thuộc tầng lớp trung lưu toàn cầu năm ngoái giảm lần đầu tiên kể từ thập niên 90.

Dĩ nhiên, gánh nặng này không chia đều giữa các nước. Nghiên cứu của Oxford Economics với 162 quốc gia, dựa trên 31 tiêu chí, cho thấy Philippines, Peru, Colombia và Tây Ban Nha là những nền kinh tế dễ chịu tổn thương lâu dài nhất. Trong khi đó, Australia, Nhật Bản, Na Uy, Đức và Thụy Sĩ là những nước có vị thế tốt nhất.

Người đi bộ đeo khẩu trang trên đường phố Madrid (Tây Ban Nha). Ảnh: Bloomberg

Người đi bộ đeo khẩu trang trên đường phố Madrid (Tây Ban Nha). Ảnh: Bloomberg

"Để quay về chuẩn mực tiền Covid-19 sẽ phải mất một thời gian", Carmen Reinhart – kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới cho biết, "Hậu quả của Covid-19 sẽ không đảo ngược với rất nhiều quốc gia".

Không phải tất cả các nước đều chịu tác động như nhau. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nhận thấy các nền kinh tế tiên tiến ít chịu ảnh hưởng bởi đại dịch trong năm nay và các năm tới. Trong khi đó, các nước có thu nhập thấp và mới nổi sẽ chịu tác động lớn hơn. Điều này ngược với khủng hoảng tài chính 2009 – khi các nước giàu gánh hậu quả nặng nền hơn.

GDP năm tới của Mỹ được dự báo còn cao hơn tiền đại dịch, chủ yếu nhờ hàng nghìn tỷ USD kích thích. IMF cũng cho rằng nền kinh tế số một thế giới ít phải chịu tàn dư từ đại dịch.

Trong một báo cáo tháng 1, WB cảnh báo thế giới sẽ phải trải qua "một thập kỷ tăng trưởng thất vọng" nều không có các biện pháp khắc phục. WB ước tính GDP toàn cầu năm 2025 sẽ vẫn thấp hơn 5% so với tiền đại dịch. Tốc độ tăng trưởng sẽ rơi xuống dưới 2% thập kỷ tới.

Giới chuyên gia cho rằng "thập kỷ mất mát" sẽ không diễn ra nếu các chính sách phù hợp được thực hiện, đặc biệt trong việc đào tạo lại kỹ năng cho công nhân và hỗ trợ nhóm chịu tác động nặng nhất từ cuộc khủng hoảng. Một trong các biện pháp là tạo động lực cho doanh nghiệp đổi mới và đầu tư, nhất là trong lĩnh vực biến đổi khí hậu. Các ngân hàng trung ương và phần lớn chính phủ đã ra tín hiệu sẽ tiếp tục kích thích kinh tế.

Catherine Mann – kinh tế trưởng tại Citigroup cho rằng nhóm chính sách này có thể giúp thế giới phục hồi hoàn toàn. "Sự đổi mới sẽ hỗ trợ tăng năng suất. Đầu tư mới thì nâng cao chuẩn mực sống", bà nói, "Chìa khóa là các chiến lược để giữ và đào tạo công nhân nhằm tận dụng cơ hội năng suất lao động tăng cao".

Đằng sau đà hồi phục chữ V

Các nước nhanh chóng kiểm soát được đại dịch đã phát đi cảnh báo về con đường gập ghềnh phía trước. Sau khi đà phục hồi chữ V qua đi, kinh tế New Zealand co lại trong quý cuối 2020 do thiếu khách du lịch nước ngoài. Còn ở Trung Quốc – nơi đại dịch đã được kiểm soát gần một năm qua, tiêu dùng vẫn rất ì ạch.

Dù người dân tích trữ được số tiền lớn năm qua, "hành vi tiêu dùng sau đại dịch rất thiếu chắc chắn", Adam Posen – Chủ tịch Viện Kinh tế Quốc tế Peterson cho biết, "Nếu mọi người quay lại ăn ngoài, du lịch, tập gym như xưa, rất nhiều ngành sẽ hồi sinh. Nhưng cũng có khả năng hành vi này thay đổi, khiến nhiều người thất nghiệp hơn và không chính phủ nào giải quyết được".

Theo WB, lịch sử cho thấy 5 năm sau suy thoái tại một quốc gia, dự báo tăng trưởng dài hạn thường thấp hơn 1,5% so với kịch bản không suy thoái.

Những thay đổi có thể kéo dài

Cuộc khủng hoảng đã tăng tốc việc sử dụng robot trong cả ngành sản xuất và dịch vụ, khi người lao động và khách hàng cần được giữ an toàn trong đại dịch. Dù việc này làm tăng năng suất, nó lại đe dọa hàng triệu việc làm.

McKinsey & Co dự báo đến năm 2030, 100 triệu người tại 8 nền kinh tế hàng đầu thế giới có thể phải đổi nghề. Những người dễ thiếu hụt kỹ năng nhất là tầng lớp có trình độ giáo dục thấp, phụ nữ, người thuộc nhóm thiểu số và người trẻ. Càng thất nghiệp lâu, kỹ năng của họ càng mai một.

"Rất nhiều nghề nghiệp sẽ biến mất mãi mãi", Eric Robertsen – Giám đốc nghiên cứu toàn cầu của Standard Chartered cho biết, "Các công việc thu nhập thấp ở những công ty hay lĩnh vực nhỏ sẽ biến mất khi nhóm doanh nghiệp hoặc lĩnh vực này không còn. Rất nhiều công ty thích ứng tốt hơn sẽ nhảy vào thế chỗ, nhưng với ít nhân lực hơn".

Kể cả khi các công việc này không biến mất, quy trình lao động cũng sẽ thay đổi. Việc này đang mở ra cuộc tranh luận rằng chúng sẽ tác động đến mức lương như thế nào.

Những tác động dài hạn cũng sẽ phản ánh vào vốn nhân lực, khi đại dịch khiến trẻ em và sinh viên nhiều nước không thể đến trường suốt cả năm. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năm ngoái tính toán việc học sinh không thể đến trường trong một phần ba năm học có thể kìm hãm GDP cả nước suốt những năm còn lại của thế kỷ. Những học sinh lớp 1 – 12 có thể nhận thu nhập thấp hơn 3% trong suốt cuộc đời. Nhóm chịu tác động mạnh nhất là người nghèo và thiểu số.

Viện Tài chính Quốc tế cũng chỉ ra khả năng phục hồi hoàn toàn sẽ phức tạp thêm khi khối nợ toàn cầu tăng 24.000 tỷ USD năm ngoái, lên tổng cộng 281.000 tỷ USD. Và kể cả khi không có khủng hoảng nợ, một khi lãi suất tăng lên, các nước và các doanh nghiệp cũng sẽ phải chịu sức ép lớn, Mark Zandi – kinh tế trưởng tại Moody’s Analytics kết luận.

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo