Chủ nhật, 17/10/2021 | 23:16 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Kết quả kinh doanh quý III/2021 Một thập kỷ của ngành ngân hàng Cuộc khủng hoảng thanh khoản tại Evergrande Lạm phát - mối lo mới của thị trường thế giới
Thứ bảy, 17/7/2021, 07:45 (GMT+7)

Covid-19 thách thức mục tiêu xuất khẩu 39 tỷ USD của ngành dệt may

Đỗ Lan Thứ bảy, 17/7/2021, 07:45 (GMT+7)
1-detmay64-6215-1626423888.jpg

Covid-19 đang gây khó khăn cho ngành dệt may. Ảnh: TTXVN

Việt Nam trỗi dậy là một trong những nhà xuất khẩu lớn về thời trang và dệt may trong những năm gần đây. Điều này có được là do nhiều thương hiệu thời trang quốc tế đã chuyển sản xuất và tìm nguồn cung ứng từ Trung Quốc sang các nước lao động rẻ hơn như Việt Nam, Bangladesh và Campuchia.   

Trong giai đoạn 5 năm từ 2015-2019, trước khi đại dịch Covid-19 xảy ra, Việt Nam cho thấy sự gia tăng ổn định trong xuất khẩu thời trang và dệt may. Tổng giá trị xuất khẩu tăng từ khoảng 28 tỷ USD năm 2015 lên 39 tỷ USD năm 2019. Tuy nhiên, tổng doanh thu năm 2020 giảm khoảng 10% (xuống còn 35,2 tỷ USD) so với năm 2019, do ảnh hưởng của Covid-19. 

Nửa đầu năm nay, ngành dệt may có những dấu hiệu tích cực. Xuất khẩu dệt may đạt gần 19 tỷ USD, tăng trên 20% so với 2020, đặc biệt đã vượt qua cả con số của cùng kỳ năm 2019.  

Xuất khẩu dệt may thời trang Việt hướng tới mục tiêu đạt tổng giá trị 39 tỷ USD vào năm nay. Tuy nhiên, theo Phó Giáo sư Rajkishore Nayak, Giảng viên cao cấp ngành Thời trang, Đại học RMIT, việc đạt được mục tiêu này hay không còn phụ thuộc vào các biện pháp xử lý dịch từ làn sóng Covid-19 lần thứ 4, vốn nghiêm trọng hơn trước. 

1-ra1-5642-1626423888.jpg

Phó Giáo sư Rajkishore Nayak, Giảng viên cao cấp ngành Thời trang, Đại học RMIT. Ảnh: RMIT

Ông Nayak chia sẻ với Người Đồng Hành rằng Covid-19 có thể gây ra tổn thất khó bù đắp cho các doanh nghiệp. Ngành công nghiệp thời trang và dệt may ở nhiều nước trong đó có Việt Nam sử dụng nhiều lao động. Do do đó sức khỏe của toàn bộ lực lượng lao động là rất quan trọng nhằm đáp ứng thời hạn đơn hàng từ các nước nhập khẩu. Nếu không có nhân công làm việc, sẽ có sự chậm trễ, hủy bỏ đơn đặt hàng từ đối tác mua hàng ở nước ngoài. Những doanh nghiệp nào có cơ sở vật chất, đã chuyển đổi số sẽ đỡ bị thiệt hại hơn trong cơn đại dịch này. 

Chuyển đổi số là xu hướng để doanh nghiệp có thể tồn tại và cạnh tranh nhưng việc thực hiện không dễ 

Phó Giáo sư Nayak cho rằng mặc dù có một số tiến bộ về công nghệ trong lĩnh vực sản xuất thời trang và dệt may, lĩnh vực này ở các nước đang phát triển như Việt Nam vẫn còn sử dụng nhiều lao động. 

Một số công nghệ như máy thùa khuy, đính nút, đóng thanh, đóng nhãn và đóng túi được các nhà sản xuất áp dụng. Các tiến bộ công nghệ như ứng dụng CAD (thiết kế có sự hỗ trợ của máy tính) và CAM (sản xuất có sự hỗ trợ của máy tính), thiết bị tự động mới trong các hoạt động cắt, ép keo, may, đóng ép cũng được áp dụng tại một số nhà máy. Tuy nhiên, sử dụng robot trong dệt may ở Việt Nam chưa phổ biến. 

Tự động hóa trong dệt may và thời trang tại Việt Nam đang áp dụng trong kiểm tra vải, tạo mẫu kỹ thuật số, trải và cắt vải, gắn cổ áo và khuy măng séc... Những công nghệ mới này có thể thay thế  quy trình sử dụng nhiều lao động hiện nay và giúp cải thiện năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Tự động hóa có thể làm giảm số lượng lỗi và chi phí sản xuất tổng thể, tiết kiệm tổng chi phí sản xuất trong tình hình như đại dịch hiện nay.  

Tuy nhiên, các nhà sản xuất thời trang và dệt may Việt Nam phải đối mặt với một số thách thức trong việc áp dụng công nghệ tự động.  

Thách thức lớn là chi phí lắp đặt các công nghệ tự động. Vì nhiều ngành sản xuất thời trang và dệt may của Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Họ không đủ sức khỏe tài chính để áp dụng công nghệ mới.  

Hơn nữa, nhu cầu nhập khẩu giảm từ nước ngoài do dịch Covid-19 không phải là điều kiện thích hợp để lắp đặt các công nghệ tự động. Do đó, nhiều ngành sản xuất vẫn theo công nghệ sản xuất truyền thống. Ví dụ, ngành sản xuất vải, đặc biệt là ngành dệt vẫn đang sử dụng công nghệ cũ. Do vậy, chất lượng vải dệt thoi sản xuất tại Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ vải chất lượng cao trên toàn cầu.   

Thay đổi dây chuyền, phương pháp tiếp cận để thích nghi với điều kiện mới 

Theo Phó Giáo sư Nayak, nhu cầu trên toàn cầu về thời trang và dệt may giảm đáng kể do ảnh hưởng của Covid-19. Nhu cầu về mua sắm đã chuyển nhiều hơn sang các loại trang phục giản dị và mặc nhà khi mọi người vẫn làm việc ở nhà.  

Do đó, các nhà sản xuất thời trang và dệt may nên thay đổi dây chuyền sản xuất để đáp ứng nhu cầu đang thay đổi. Họ nên tập trung vào các phương pháp tiếp cận bền vững như nguyên liệu bền vững và công nghệ bền vững trong quá trình sản xuất để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.  

Nhu cầu trên thế giới cũng sẽ hướng đến việc sử dụng các nguyên liệu bền vững như nguyên liệu thô tự nhiên, bông hữu cơ, sợi gai dầu, vải lanh và các loại sợi mới khác. Nylon và polyester tái chế cũng sẽ nhận được sự quan tâm đáng kể từ các thương hiệu thời trang toàn cầu.  

Tương tự, các nhà sản xuất cũng cần áp dụng các công nghệ bền vững để đáp ứng nhu cầu trên toàn cầu. Các phương pháp tiếp cận khác như giảm thiểu chất thải, hướng đến nền kinh tế tuần hoàn và các nguồn năng lượng thay thế cũng sẽ là trọng tâm chính của quá trình sản xuất nhằm tiết kiệm chi phí và trở nên bền vững hơn.    

Đối với các nhà sản xuất và bán lẻ, đây là lúc để thiết kế lại chuỗi cung ứng, tìm kiếm sản phẩm phù hợp trong tương lai, tập trung vào yêu cầu để phát triển. Việc lập kế hoạch ngắn và dài hạn sẽ không chỉ giúp các doanh nghiệp ngăn chặn hậu Covid-19, mà còn giúp họ chuẩn bị tốt hơn trong tương lai về khả năng chịu đựng trong các tình huống tương tự. 

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo