Thứ sáu, 18/10/2019 | 16:50 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Kết quả kinh doanh quý III/2019 Cú lao dốc của FTM Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Chứng quyền có bảo đảm Cổ phần hóa 93 doanh nghiệp Nhà nước
Thứ sáu, 2/1/2015, 14:55 (GMT+7)

Doanh nhân Việt 30 năm đổi mới: “Họ có giỏi không? Vô cùng giỏi, nhưng…”

Thứ sáu, 2/1/2015, 14:55 (GMT+7)

BizLIVE trò chuyện với ông Nguyễn Trần Bạt, doanh nhân, luật sư, nhà tư vấn, người sáng lập InvestConsult Group

Người đi cùng sự phát triển của doanh nhân, nghiên cứu sâu đời sống kinh tế và văn hóa đất nước, với những tác phẩm Văn hóa và con người, Suy tưởng, Cải cách và sự phát triển, Bàn về tự do… có mặt trên giá sách của Đại học Harvard là ông, Nguyễn Trần Bạt.

Với những ý kiến thẳng thắn và đôi khi mang góc nhìn riêng rất cá tính, ông có cuộc trò chuyện thú vị với BizLIVE nhân dịp đầu xuân Ất Mùi về diện mạo các thế hệ doanh nhân Việt Nam đã hình thành và phát triển sau gần 30 năm đất nước đổi mới và hội nhập…

4 nhóm doanh nhân

Theo ông, Việt Nam đã thực sự hình thành những thế hệ doanh nhân có bản sắc và bản lĩnh thương trường riêng biệt?

Riêng về doanh nhân, tôi cho rằng thời gian mà chúng ta cải cách chưa đủ dài để có nhiều thế hệ các nhà kinh doanh. Chúng ta mới chỉ có một thế hệ kinh doanh và đó là thế hệ đầu tiên của nước Việt Nam từ sau năm 1954.

Đấy là thế hệ của thời kỳ đổi mới, thời kỳ mà kinh doanh cũng như thương mại được thừa nhận như một quyền căn bản của đời sống xã hội.

Phân tích về thế hệ ấy rất thú vị và phức tạp, nếu phân tích theo lứa tuổi thì không thấy được, mà phải phân tích theo nguồn gốc của cộng đồng các nhà kinh doanh thì mới thấy hết được.

Đầu tiên là cộng đồng các nhà kinh doanh trong khu vực nhà nước. Họ xuất thân là các cán bộ phụ trách các cơ sở kinh doanh của nhà nước. Có một giai đoạn họ là lực lượng chủ yếu của nền kinh tế Việt Nam. Đấy là nền tảng xã hội để Đảng ta thỉnh thoảng vẫn gọi nền kinh tế nhà nước là chủ đạo. Gọi như vậy là có lý, vì đó là một bộ phận rất đông, nó chiếm vào khoảng 80% toàn bộ nguồn năng lượng, tín dụng và toàn bộ các thương quyền của xã hội.

Nhóm này đông đến mức nếu không thay đổi được nó thì Thủ tướng không có cách gì để dẫn nền kinh tế này ra khỏi khó khăn, cho nên ông mới đưa ra chương trình tái cấu trúc lại khu vực doanh nghiệp nhà nước là vì thế.

Lực lượng thứ hai là người Việt Nam ở nước ngoài về đây theo các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đi cùng với các nhà đầu tư nước ngoài có nhiều nhà đầu tư là người Việt ở nước ngoài, trong đó có những người đã thành đạt về kinh doanh đến mức trở thành nhân vật của Forbes 500.

Các nhà kinh doanh người Việt có nguồn gốc nước ngoài này cũng đến từ nhiều nguồn khác nhau, mang nhiều đặc trưng văn hóa khác nhau của các nước xuất xứ, mang nhiều đặc trưng văn hóa của quá trình hình thành các tài sản ban đầu của họ.

Một là Việt kiều từ phương Tây như Mỹ, Tây Âu, những người có một thời kỳ dài trở thành lực lượng chủ yếu của khái niệm kiều hối. Kiều hối về Việt Nam một năm khoảng 9-10 tỷ đô la, và bao nhiêu năm nay nó đã trở thành nguồn vốn căn bản để hình thành một lực lượng kinh tế.

Thứ hai là doanh nhân trở về từ các nước hậu Xô-viết, như Ukraine, Nga. Nhóm Vincom, nhóm Vietjet Air, nhóm VIB, nhóm Techcombank… là những điển hình, một lực lượng vô cùng đáng kể và rất thành đạt trong giai đoạn vừa rồi.

Điều đáng để phân tích là họ mang tiền ở đâu về, kinh nghiệm kinh doanh của họ là gì, thị trường của họ là gì.

Nguồn thứ ba là các doanh nhân tại chỗ ở khu vực tư nhân. Chúng ta có rất nhiều tấm gương thành công, Hoàng Anh Gia Lai, Phú Thái, Huy Hoàng, Đại Nam… là những ví dụ. Đấy là những doanh nhân tại chỗ, họ lớn lên bằng sự hợp tác với các tổ chức kinh tế, tài chính trong nước để trở thành những đại gia về phương diện kinh tế. Họ cũng là những đại gia thật sự đáng kể.

Còn nhóm thứ tư là những doanh nhân vừa và nhỏ giống như tôi. Đấy là nhóm hình thành từ môi trường tự do bình thường. Nhóm này tuy là các "con thú" bé nhưng nó cũng là nguồn cảm hứng của các đại gia, bởi vì nếu không có tiểu gia thì không có đại gia.

Đại gia là những con thú đủ năng lực để "ăn thịt" nhiều con thú bé, cho nên phải có đàn thú bé thì mới có đại gia. Cánh đồng mà không có những con vật nhỏ thì không thể gọi hổ báo về được.

Vậy thì quan sát bốn nhóm doanh nhân ấy, ông thấy những đặc tính gì nổi trội?

Về mặt kinh tế, phải thấy động lực làm ăn của nó là gì, nguồn vốn của nó ở đâu ra và nó được kết nối với dòng tài chính nào ở trên thế giới. Phân tích về động lực kinh tế hay bản chất kinh tế của các lực lượng này là vô cùng quan trọng.

Tiếp đó phải phân tích các đặc điểm khác như sự liên kết hay chỗ dựa của nó là gì. Điều đó cũng vô cùng quan trọng.

Nhiều người đã nói về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Còn đây là định nghĩa riêng của cá nhân tôi: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thể hiện tính liên minh chính trị giữa tầng lớp doanh nhân với Đảng.

Phải phân tích được các đặc điểm của bốn nhóm doanh nhân này thì mới có thể phân tích được lực lượng của nền kinh tế Việt Nam. Phân tích được lực lượng của nền kinh tế Việt Nam rồi thì mới có cơ sở để phân tích vậy cần cơ chế như thế nào để có thể khích lệ cả bốn nhóm này.

Hiện nay Đảng ta đã đưa ra nhiều chương trình cải cách, sửa đổi từ hiến pháp trở xuống, nhưng theo tôi chúng ta vẫn chưa tập trung nghiên cứu về đối tượng hưởng thụ của các sửa đổi này, đó là các doanh nhân, thành phần chủ yếu tạo ra một nền kinh tế. Nghiên cứu doanh nhân không phải để nói về nó, mà để tạo chính sách cho nó.

Để tạo ra chính sách tốt cho cộng đồng này, cần phải làm gì? Đây không phải là những câu hỏi nhỏ, nếu chúng ta làm một cách công phu thì đây sẽ là những vấn đề mà có lẽ chính Tổng Bí thư và Thủ tướng cũng cần.

Càng thành công càng "phức tạp"

Vậy ông nghĩ, cung cách làm ăn của bốn nhóm này có gì khác nhau?

Đây là điều rất thú vị, tôi sẽ đưa ra phân tích của mình.

Thứ nhất là nhóm các doanh nhân đi theo đầu tư nước ngoài từ phương Tây, nhóm này là các chuyên gia về kỹ thuật, về công nghệ, các chuyên gia về điều hành, kể cả các chuyên gia về tài chính.

Nhóm này có ích lâu dài và căn bản cho việc hình thành nền kinh doanh Việt Nam. Tất nhiên các nhóm này là bộ phận phụ thuộc của đầu tư nước ngoài từ phương Tây, nó cũng có những đòi hỏi theo kiểu của nó, thường gắn liền với các đòi hỏi của chính phủ phương Tây về Việt Nam.

Cho nên khó khăn của nhóm này chủ yếu là khó khăn chính trị hay là khó khăn về cải cách thể chế. Nếu muốn thỏa mãn nhóm này và "rủ rê" họ về đông để phục vụ sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, thì chúng ta buộc phải thay đổi một số đặc điểm trong điều hành đất nước.

Nhóm thứ hai cũng đi từ nước ngoài về nhưng đi từ Đông Âu, nhóm này là những nhóm người Việt thuần túy, làm giàu bằng sự thông minh cũng có, nhưng bằng sự "liều mạng" là chủ yếu, tạo ra được những tài sản ban đầu lớn và thổi nó thành tài sản khổng lồ.

Lực lượng này sức mạnh của nó là ở chỗ dám phiêu lưu, và đặc biệt là biết cách liên kết một cách có hiệu quả.

Nhìn ngoài họ rất đẹp, nhưng đôi khi bên trong họ còn đại diện cho một số lực lượng rất mạnh của kinh tế không chính thống. Khó khăn và cả lợi ích mà nhóm này mang lại là làm cho Việt Nam thức tỉnh về tính bất cẩn của việc xây dựng hệ thống quản trị quốc gia, quản trị nhà nước về kinh tế.

Lực lượng thứ ba chính là lực lượng các doanh nhân tại chỗ như Huy Hoàng, như Hoàng Anh Gia Lai. Họ có giỏi không? Vô cùng giỏi, nhưng họ giống loại thứ hai, và đôi khi họ càng thành công bao nhiêu thì càng "phức tạp" bấy nhiêu.

Một vài vụ việc gần đây bộc lộ những chuyện như vậy, ví dụ như vụ Huyền Như, hay các anh em ở ngân hàng ACB…

Loại thứ tư cực kỳ quan trọng, nhưng ít ai để ý là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các công ty vừa và nhỏ là một khu vực tạo ra sức mua của xã hội, vì nó là công cụ để giải quyết công ăn việc làm cho toàn bộ xã hội.

Các lực lượng tôi vừa nói ở trên sử dụng công cụ là tiền vốn, còn các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng công cụ là lao động.

Chúng ta chưa có chính sách gì đáng kể ứng xử một cách hợp lý đối với lực lượng vừa và nhỏ này. Vì thế cho nên lao động không được sử dụng hợp lý, thu nhập không hợp lý tạo ra sức mua của đại bộ phận xã hội không hợp lý, là thấp.

Bởi vì phân bố tiền vốn cũng như lực lượng của chúng ta trên hai lớp này khác nhau quá xa, nên chúng ta có một khoảng cách giàu nghèo đang ngày càng lớn, và ngày càng khó xử lý, do cấu trúc của các lực lượng thương mại, doanh nhân như hiện nay.

Theo Bizlive

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo