Thứ ba, 19/11/2019, 10:33 (GMT+7)

Chủ tịch Vinaseed: 'Chúng tôi chọn hướng đi khác biệt với thị trường thì cũng cần làm khác'

Với cách làm mới, Vinaseed mong muốn góp một phần nhỏ vào thực hiện sứ mệnh của Tập đoàn PAN là "nâng tầm nông nghiệp Việt", xây dựng mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị khép kín, trong đó nông dân là chủ thể tạo ra sản phẩm sạch, an toàn, nâng cao giá trị sản phẩm để gạo Việt Nam ngang tầm Thái Lan, không thua Campuchia về giá, chất lượng, để đời sống nông dân làm lúa ngày càng được nâng cao. 

Bà Trần Kim Liên, Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Tập đoàn Giống cây trồng Việt Nam (Vinaseed - HoSE: NSC - một thành viên của Tập đoàn PAN) chia sẻ ngành kinh doanh cốt lõi của Vinaseed là giống cây trồng – ngành công ty có lợi thế cạnh tranh tốt, nhiều cơ hội và tiềm năng tăng trưởng. Tuy nhiên, trong chiến lược phát triển của mình, Vinaseed vẫn tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị khép kín: Nghiên cứu - Sản xuất giống - Sản xuất lương thực - Chế biến - Xây dựng thương hiệu và tổ chức kinh doanh lương thực (nội tiêu và xuất khẩu).

Năm 2019, Vinaseed đã đầu tư xây dựng trung tâm công nghiệp CB hạt giống và CB lương thực hiện đại tại Đồng bằng Sông Cửu Long với tổng đầu tư trên 300 tỷ để thực hoá chiến lược phát triển chuỗi giá trị. 

 - Gần đây, một số doanh nghiệp xuất khẩu của Thái Lan lên tiếng ủng hộ Chính phủ nước này cấm 3 loại hoá chất dùng trong nông nghiệp là Paraquat, Glyphosate, Chlorpysifos sau khi một số thị trường như EU, Mỹ, Nhật Bản nâng cao chuẩn cho các sản phẩm gạo xuất khẩu từ nước này. Bà đánh giá sao về động thái trên từ doanh nghiệp nước bạn?

- Theo tôi, đó không phải là động thái mà là xu hướng tất yếu trong sản xuất nông sản để đáp ứng yêu cầu cao cho thị trường xuất khẩu, đặc biệt đối với các nước xuất khẩu. Bởi thực tế là một số nước châu Á đang lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật mà nếu tồn dư thuốc, hàm lượng nitrat quá lớn sẽ gây ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Trong khi đó, tiêu chuẩn của EU hoặc Mỹ, Nhật Bản lại rất chú trọng đến các vấn đề về tồn dư của thuốc. Vì thế, việc doanh nghiệp nước bạn ủng hộ Chính phủ cấm 3 loại hoá chất trên không phải là động thái để họ “đánh bóng” mà thực sự công ty nông nghiệp sẽ phải tiếp cận đến xu thế đó. Việt Nam cũng cần phải làm như vậy. 

Thái Lan giờ mới đề xuất cấm thuốc diệt cỏ Paraquat chứ Việt Nam cấm lâu rồi, duy chỉ Glyphosate thì đến tháng 6/2020 hết hạn lưu hành ở Việt Nam. Thật ra những loại hoá chất trên dùng trong nông nghiệp nếu không đúng liều lượng sẽ ảnh hưởng không những tồn dư trong sản phẩm mà còn tồn trong đất, làm ảnh hưởng lâu dài đến môi trường.

Hiện nay, có nhiều loại thuốc diệt cỏ, trừ sâu gốc sinh học thế hệ mới như Spinetoram, Bacciluss đảm bảo an toàn sinh học, không khuếch tán và tồn dư trong đất, sản phẩm. Cùng với đó, sản xuất nông nghiệp còn áp dụng đồng bộ các giải pháp canh tác bền vững như VietGAP, áp dụng 3 giảm 3 tăng trong sản xuất, IPM (hệ thống các biện pháp phòng ngừa, canh tác, công nghệ SH, dùng thuốc bảo vệ thực vật đúng loại, đúng nồng độ, đúng thời điểm)…

Đặc biệt với tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp và áp dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất như dự báo mật độ, tuổi rầy để phu thuốc hiệu quả, giảm số lần phun thuốc, dùng phân bón thông minh chậm phân huỷ để tiết kiệm phân bón, nước, giảm hiệu ứng khí thải và lượng bốc hơi nitơ. Đã đến lúc sản xuất nông nghiệp Việt Nam phải gắn với bảo vệ môi trường sống, sản xuất ra sản phẩm an toàn cho xã hội. 

- Ở Vinaseed thì sao?

- Vinaseed đã nhận thức được vấn đề này ngay từ khi bước vào mảng kinh doanh nông sản từ năm 2017 với việc xây dựng thương hiệu gạo “Tươi Sạch Vinaseed”. Trong quy trình sản xuất, chúng tôi đã không cho phép sử dụng Paraquat và Glyphosate dù đến tháng 6/2020 Glyphosate mới bị cấm sử dụng ở Việt Nam cũng như Chlorpysifos - loại thuốc diệt côn trùng nhóm gốc lân độc, thẩm thấu mạnh và sâu, chậm phân huỷ và có nguy cơ với sức khoẻ con người.

Thực tế, Vinaseed ứng dụng đồng bộ các giải pháp canh tác bền vững ngay từ giống. Giống tạo ra đã là các giống có khả năng chống chịu tốt với biến đổi khí hậu, một số sâu bệnh chính, thực hiện canh tác bền vững, cơ giới hoá từ khâu làm đất, xử lý đồng ruộng, áp dụng 3 giảm (giảm lượng giống gieo sạ - giảm lượng thuốc trừ sâu bệnh - giảm lượng phân đạm, áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM. Vì thế, trong quy trình tổ chức sản xuất của chuỗi lúa gạo, chúng tôi không dùng các chế phẩm kể trên, kể cả Chlorpysifos ngay khi Việt Nam chưa cấm. 

- Vì sao Vinaseed lại chọn không sử dụng hoá chất ngay cả khi hoá chất đó còn chưa bị cấm ở Việt Nam?

 - Tôi nghĩ ngày nay chúng ta đã hội nhập ngày càng sâu, rộng vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Việt Nam tham gia vào các FTA như CPTPP, EVFTA… nên chắc chắn chúng ta sẽ phải tuân thủ những quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn khắt khe đối với những nhà xuất khẩu, thậm chí ngay cả ở thị trường nội địa khi mà nhận thức, khả năng thanh toán của cư dân ngày càng tăng.

Đồng thời, chúng ta cũng phải tiếp cận những thông tin, xu thế trên thế giới, đón nhận xu thế sản phẩm an toàn, chất lượng. Chọn hướng đi khác biệt với thị trường thì chúng tôi cũng cần phải làm khác. Ví dụ như gạo của Vinaseed bao giờ cũng bán với giá 700-1.000 USD/tấn chứ không phải 500-600 USD/tấn như các doanh nghiệp khác thì rõ ràng chất lượng cũng sẽ phải khác. 

Chúng tôi chọn hướng đi riêng biệt, triển khai đồng bộ một trong các giải pháp bền vững. Đi đôi với giải pháp là các giống có khả năng chống chịu, ứng dụng các tiến bộ trong khoa học sản xuất, ví dụ như phân bón chậm phân huỷ để hạn chế hiệu ứng nhà kính, bốc hơi, hạn chế tồn dư hàm lượng nitrat trong sản phẩm…

- Có nghĩa là công ty xác định “đi trước một bước” ngay từ lúc đầu?

- Ngay trong ý thức, chúng tôi đã phải triển khai xây dựng vùng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, truy xuất nguồn gốc, ứng dụng Farmricod trong quản lý để có thể truy xuất nguồn gốc trong nhà máy được quản lý theo HAPCCP, ISO22000. 

Đến tháng 12 này, nhà máy tại Đồng Tháp của Vinaseed mới khai trương, đi vào hoạt động nhưng chúng tôi đã bắt đầu ký hợp đồng để xây dựng tiêu chuẩn GlobalGAP. Điều đó có nghĩa là việc xây dựng theo các chuẩn mực quốc tế được chúng tôi áp dụng từ đồng ruộng đến nhà máy, nhằm tạo ra được những sản phẩm tiêu chuẩn nhất.

Tôi cho rằng bất cứ doanh nghiệp nào muốn phát triển và tồn tại thì đều phải đi theo định hướng phát triển bền vững đó. Vì chắc chắn một điều là bạn hay khách hàng, gia đình đều sẽ luôn lựa chọn những sản phẩm họ thấy tin tưởng, an toàn. Cho nên ở Vinaseed, ngay cả với gạo, chúng tôi cũng xây dựng thương hiệu gạo tươi chứ không dùng chất bảo quản.

- Đi trước một bước để làm khác biệt như thế, hẳn là cũng phải có những đánh đổi nhất định?

- Có chứ. Rõ ràng để cho nông dân tuân thủ quy trình của công ty thì năng suất có thể bằng, thấp hơn một chút. Mặt khác, chúng tôi cũng mua với giá cao hơn cho nông dân. Ở góc độ nào đó thì đây là sự đánh đổi. 

Thứ hai, để xây dựng vùng nguyên liệu bền vững, chúng tôi phải đầu tư rất nhiều. ví dụ như tập huấn, chuyển giao công nghệ và đào tạo miễn phí cho hàng vạn bà con nông dân, đầu tư ứng vốn không thu lãi…

Để hình thành những thói quen, tư duy mới thì không phải ngày một ngày hai là xong đâu. Đầu vào như vậy, đầu ra chắc chắn cũng phải có giá cao hơn. Người tiêu dùng mà chưa thực sự nhận biết được sự khác biệt của sản phẩm thì cũng nhiều khi phải trả giá. (Cười).

Nói vậy thôi, chứ không hiểu sao tôi có một niềm tin chắc chắn là người tiêu dùng, kể cả trong nước hay thế giới sẽ tìm đến những doanh nghiệp làm ăn bài bản, quản lý được mọi khâu từ đồng ruộng để truy xuất được nguồn gốc sản phẩm, tuân thủ quy trình sản xuất an toàn đến trong nhà máy… Tôi nghĩ trước sau gì thì khát vọng nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng cũng sẽ thành công dù có thể sẽ có những khó khăn nhất định trong giai đoạn đầu. 

Tôi nói thật, lẽ ra Vinaseed chỉ bán giống mà thôi, mảng có biên lợi nhuận tốt hơn những ngành khác, đặc biệt là sản xuất kinh doanh gạo. Thế nhưng dù lợi nhuận thấp hơn hẳn so với làm giống, chúng tôi vẫn làm theo chuỗi. (Cười). 

Với cách làm mới, Vinaseed mong muốn góp một phần nhỏ vào thực hiện sứ mệnh của Tập đoàn PAN là “nâng tầm nông nghiệp Việt”, xây dựng mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị khép kín. Trong đó, người nông dân sẽ trở thành chủ thể để tạo ra sản phẩm sạch, an toàn và nâng cao giá trị sản phẩm, để gạo Việt Nam của chúng ta ngang tầm Thái Lan và không thể thua Campuchia về giá cả, chất lượng, để đời sống nông dân làm lúa ngày càng được nâng cao. 

- Nhìn vào thị trường nói chung, bà thấy như thế nào về việc không nhiều doanh nghiệp hiện nay làm được chuẩn chỉnh tất cả khâu trong chuỗi sản xuất như bà vừa nêu trên?

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt đề án tái cấu trúc ngành lúa gạo Việt Nam đến 2020, tầm nhìn 2030 theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Mục tiêu là hình thành vùng sản xuất hàng hoá có quy mô lớn, chất lượng sản phẩm đảm bảo, đặc biệt lợi nhuận cho người làm lúa phải đảm bảo tối thiếu 30%. 

Hiện tại, chuỗi sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam bị chặt đứt rất nhiều. Ví dụ như khâu sản xuất không liên quan đến khâu tiêu thụ, có quá nhiều các tầng lớp trung gian, thiếu hệ thống cơ sở chế biến bảo quản dẫn đến chất lượng hàng hoá bị ảnh hưởng, khi ra thị trường sẽ không ổn định. Sự chia cắt của chuỗi giá trị đó dẫn đến không quản lý được toàn bộ chất lượng sản phẩm đầu cuối. Do đó, người mua hàng cũng không biết khâu sản xuất thế nào. Đó là điểm yếu. 

Tuy nhiên, tôi cho rằng điểm yếu này cũng chính là cơ hội cho các doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc và bài bản, xây dựng vùng nguyên liệu cho mình, chuyên môn hoá các quy trình và giám sát được chất lượng sản xuất ngay từ ngoài đầu đến vào trong kho.

- Nếu làm được chuỗi một cách bài bản, doanh nghiệp có những lợi thế gì?

- Nếu làm đầu cuối như Vinaseed đang làm, chúng ta hoàn toàn kiểm soát được chất lượng sản phẩm và đảm bảo sự ổn định về tiêu chuẩn sản phẩm.

Tuy nhiên, cái khó nhất hiện nay lại là vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm, các doanh nghiệp nắm thị trường lại không nắm được sản xuất. Đấy là một trong những nội dung phải tái cấu trúc, tức là tạo mọi thuận lợi do các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất, phải hình thành các vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh quy mô lớn và chú trọng đầu tư hệ thống chế biến và bảo quản, các doanh nghiệp có thị trường phải gắn với sản xuất thì lúc đó mới kiểm soát được. 

Tôi là nhà sản xuất, tôi tuân thủ các quy trình, tiêu chuẩn thì rõ ràng giá phải cao hơn. Nhưng người mua đa phần lại thích giá rẻ hơn. Điều này khiến cho sản phẩm nông sản của Việt Nam, đặc biệt là gạo, có giá thấp vì chất lượng không ổn định, quy mô không đủ lớn và không đồng nhất về mặt chất lượng. Đó là những điểm yếu lớn nhất của nông sản Việt Nam mà chúng ta cần thay đổi. Tôi nghĩ cái khó chính là cơ hội của các doanh nghiệp muốn phát triển.

Tôi nghĩ các doanh nghiệp phải biết kết nối, nắm bắt được các xu hướng, thông tin về các tiến bộ trong khoa học công nghệ và mạnh dạn ứng dụng. Chúng tôi đang làm như thế. Để Tập đoàn PAN trở thành tập đoàn nông nghiệp hàng đầu thì chúng tôi phải thể hiện những điểm hàng đầu. Hiện tại, chúng tôi đang thực hiện một chuỗi quản lý nông nghiệp thông minh, bắt đầu ứng dụng internet vào chuỗi sản xuất, kết nối các nhà cung ứng để thành chuỗi và hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa để họ góp phần thay đổi phương thức quản trị nông nghiệp Việt Nam. 

Theo tôi, sớm hay muộn thì các doanh nghiệp cũng phải làm như thế. Chúng tôi dù quy mô chưa lớn nhưng lại đang có ý tưởng đưa nông dân vào chuỗi có quy mô lớn, ứng dụng công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, cơ giới hoá, tiếp cận khoa học công nghệ. Chúng tôi có thế mạnh là có nghề để đào tạo, tập huấn và quản lý tốt hơn những đơn vị khác.

- Ở Vinaseed, hiệu quả nhìn thấy được của việc áp dụng các công nghệ đó ra sao?

- Thứ nhất là hiệu quả về mặt kinh tế. Vinaseed tạo ra được những sản phẩm mà chúng tôi định giá cao hơn, nhằm vào phân khúc an toàn hơn, phân khúc có khả năng phán đoán tốt hơn, tạo ra các sản phẩm chất lượng hơn, nông dân có thu nhập cao hơn. Đó là hiệu quả lớn nhất về mặt kinh tế. 

Thứ hai, hiệu quả về mặt xã hội là thay đổi phương thức canh tác tổ chức sản xuất nông nghiệp. Điều này tôi nghĩ là rất lớn. Đặc biệt, chuỗi của chúng tôi bắt đầu ứng dụng cơ giới hoá, thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội, rút bớt nông nghiệp sang các lĩnh vực dịch vụ và công nghiệp. Đặc biệt, lao động nông nghiệp lớn tuổi được hỗ trợ khá nhiều bởi các ứng dụng khoa học, cơ giới hoá ứng dụng như vậy.

Nông dân được tài trợ chuỗi, chuyển giao kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm thì đồng nghĩa với việc họ có thị trường tốt hơn để yên tâm sản xuất. Vì thế mà hiệu quả về mặt xã hội là rất lớn, có thể thay đổi cả tư duy về nông nghiệp. 

Thứ mà chúng tôi đang hướng đến là thay đổi tư duy sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, tiếp cận quản trị hiện đại. Chỉ có như thế thì chất lượng nông sản Việt Nam mới tốt lên được. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần có khát vọng như thế, dám dấn thân thì mới làm lớn được. 

- Vinaseed và đối tác Nhật Bản là Nagoya Shokuryo để hợp tác sản xuất, kinh doanh gạo gồm từ giống đến canh tác, chế biến. Việc hợp tác này sau một năm cho kết quả ra sao thưa bà?

- Nagoya Shokuryo là tập đoàn xuất khẩu gạo lớn thứ ba của Nhật Bản. Chúng tôi ký dự án với họ, đang thử làm một giống gạo Japonica mới là giống tốt nhất của Nhật Bản hiện nay. 

Đối tác Nhật Bản khá hứng khởi, đang ký tiếp một năm dự án nữa và năm nay chúng tôi mở rộng, đưa thêm một số giống nữa để liên kết sản xuất, xuất khẩu. Mục tiêu ban đầu của việc hợp tác là để xuất khẩu nhưng nếu nay mai tiêu thụ được ở thị trường nội địa thì cũng tốt chứ. Vụ này, 2 bên đang hợp tác tiếp để tiến đến xây dựng thương hiệu chung.

- Sắp vào vụ Đông xuân, việc cung ứng giống của Vinaseed như thế nào? 

- Công ty vẫn đáp ứng đầy đủ nhu cầu giống của cả nước, từ Đồng bằng Bắc Bộ đến Đồng bằng sông Cửu Long. Đông xuân là vụ kinh doanh chủ lực của công ty. Đến bây giờ thì các loại giống đã đầy đủ hết rồi. Chúng tôi cũng bắt đầu tung ra một số sản phẩm chất lượng. 

- Xin cảm ơn bà.

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo