Thứ bảy, 10/12/2022 | 03:34 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ Chuyên trang Người Đồng Hành.

Câu chuyện kinh doanh Ngân hàng bán nợ/tài sản thế chấp Nhìn lại nửa đầu năm 2022 Ngày ấy - Bây giờ Bí mật đồng tiền
Thứ hai, 11/7/2022, 21:22 (GMT+7)

Linh hoạt, thận trọng với điều hành lãi suất

Theo Thời Báo Ngân Hàng Thứ hai, 11/7/2022, 21:22 (GMT+7)

Nhiều ngân hàng tăng lãi suất huy động

Theo số liệu thống kê mới nhất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến ngày 30/6, tín dụng toàn nền kinh tế đạt trên 11,4 triệu tỷ đồng, tăng 9,35% (cùng kỳ năm 2021 tăng 6,47%). Huy động vốn đạt trên 11,8 triệu tỷ đồng, tăng 4,51% so với cuối năm 2021 (cùng kỳ năm 2021 tăng 4,09%). Chủ tịch HĐTV Agribank Phạm Đức Ấn cho rằng, việc tín dụng nửa đầu năm tăng nhanh, cao gấp đôi so với huy động vốn là dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro, tạo áp lực đến mặt bằng lãi suất.

Trên thực tế, nhiều ngân hàng cũng đã điều chỉnh biểu lãi suất huy động. Đơn cử tại SCB, hiện lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng tại quầy giao dịch ở mức 7,3%/năm, nếu gửi tiết kiệm online, khách hàng sẽ được hưởng mức lãi suất 7,55%/năm. Tại Nam A Bank, lãi suất tiền gửi tại quầy kỳ hạn 12 tháng là 6,5%/năm và kỳ hạn 18 - 23 tháng là 6,7%/năm. Với khoản tiền gửi online, mức lãi suất ngân hàng này áp dụng là 7,2%/năm với kỳ hạn 12 tháng và 7,4%/năm với kỳ hạn trên 16 tháng.

3035-at4-copy-1657545078-8627-1657545268

Lãi suất huy động đang có chiều hướng tăng.

Nhóm 4 NHTM Nhà nước (Vietcombank, VietinBank, BIDV, Agribank) áp dụng mức lãi suất tiền gửi tại quầy thấp hơn so với nhóm NHTM cổ phần tư nhân, với mức cao nhất là 5,5 - 5,6%/năm. Nếu gửi online, mức lãi suất tối đa khách hàng nhận được chỉ là 6%/năm. Song nhìn chung so với giai đoạn năm 2021, mặt bằng lãi suất của nhóm nhà băng này đã nhích lên từ 0,5-1%/năm.

Tuy nhiên, theo PGS.TS Đinh Trọng Thịnh đây là một điều tất yếu để các ngân hàng có thể cạnh tranh thu hút tiền gửi từ dân cư với các kênh đầu tư khác, nhất là trong bối cảnh áp lực lạm phát đang ngày một lớn. Bên cạnh đó, tín dụng tăng nhanh trở lại cũng khiến các nhà băng phải đẩy mạnh huy động vốn để đáp ứng.

Chung quan điểm, TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế trưởng BIDV cho rằng, bên cạnh áp lực lớn từ lạm phát, để thu hút dòng tiền gửi phục vụ tăng trưởng tín dụng, các ngân hàng vẫn phải tăng lãi suất huy động.

Dư địa ổn định lãi suất cho vay vẫn còn

Theo đánh giá của SSI Research, sức ép tăng lãi suất huy động sẽ lớn hơn về cuối năm. Nguyên do bên cạnh áp lực lạm phát, còn có yếu tố nữa là các TCTD phải tuân thủ quy định tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn giảm từ 37% về 34% sẽ có hiệu lực từ ngày 1/10 theo Thông tư 08 năm 2020 của NHNN sửa đổi Thông tư 22 năm 2019 NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Để cân đối nguồn vốn các NHTM sẽ phải tăng huy động kỳ hạn dài.

Các chuyên gia nhận định, đó chính là lý do phần lớn các ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động các kỳ hạn dài. Tuy nhiên, theo đánh giá của giới chuyên môn, mức tăng của lãi suất cho vay sẽ có độ trễ so với lãi suất huy động; và có phân hoá giữa mức tăng cũng như thời điểm tăng giữa các ngành nghề. Theo đó, NIM nhiều khả năng sẽ có điều chỉnh nhẹ trong thời gian tới.

TS. Trần Thế Sao, Trường Đại học Mở TP HCM cho rằng, hiện kinh tế thế giới đang đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là áp lực lạm phát. Trong khi lãi suất là công cụ điều hành chủ yếu của NHTW tại các nền kinh tế lớn, đang được sử dụng để kiềm chế áp lực lạm phát. Việt Nam là nền kinh tế có độ mở lớn nên cũng chịu tác động không nhỏ từ những bất ổn kinh tế thế giới và những biến động trên thị trường tài chính toàn cầu.

Mặc dù vậy, hiện thị trường tiền tệ, ngoại hối trong nước vẫn được duy trì ổn định; lạm phát được kiểm soát ở dưới mức mục tiêu mà Quốc hội, Chính phủ đã đề ra và thấp hơn nhiều so với các nền kinh tế phát triển. Đặc biệt “nội lực” của nền kinh tế ngày càng được củng cố vững chắc. Thời điểm tháng 2, quy mô dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã đạt mức trên 109,9 tỷ USD, gấp 10 lần so với năm 2010 và gấp gần 4 lần so với năm 2015. Do đó, NHNN đủ năng lực để can thiệp nhằm ổn định thị trường ngoại hối, tỷ giá theo mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô.

PGS-TS. Nguyễn Bá Minh, Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính, Học viện Tài chính cũng cho rằng, nền kinh tế đang trên đà phục hồi, tuy nhiên hiện các doanh nghiệp đang phải đối mặt với chi phí sản xuất tăng cao. Vì vậy cần duy trì ổn định mặt bằng lãi suất cho vay như hiện tại để hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế phục hồi. “Dự trữ ngoại hối cao, thanh khoản dồi dào, lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát, GDP vẫn đang tăng là những công cụ giúp NHNN có thể giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay để hỗ trợ nền kinh tế trong thời gian tới”, ông Minh khẳng định.

Tuy nhiên nhiều chuyên gia đánh giá, trong bối cảnh áp lực lạm phát tăng cao như hiện tại, việc ổn định mặt bằng lãi suất đang gặp nhiều thách thức. TS. Trần Thế Sao cũng cho rằng, thị trường tài chính quốc tế trong những năm gần đây và dự kiến trong thời gian tới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Do đó, đòi hỏi NHNN Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng, chủ động, nhưng cũng hết sức linh hoạt để vừa thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, song vẫn hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng bền vững.

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo