Thứ năm, 14/11/2019 | 20:50 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Món Huế đóng cửa Kết quả kinh doanh quý III/2019 Cú lao dốc của FTM Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Chứng quyền có bảo đảm
Thứ sáu, 30/11/2012, 15:30 (GMT+7)

Quyền lợi khi chuyển giao công tác

Nguyễn Thị Diệu Tuyết Thứ sáu, 30/11/2012, 15:30 (GMT+7)

Tháng 11/2012, khi bàn giao 1 nhà máy sản xuất cho 1 Công ty cổ phần (CP), Công ty TNHH Một thành viên (MTV) đã điều động người lao động (NLĐ) tới làm việc tại nhà máy đó trong thời gian chạy thử, sau đó chuyển giao NLĐ sang Công ty CP.

Bà Lê hỏi: Việc chuyển giao NLĐ như trên có đúng quy định không? Trường hợp NLĐ không đồng ý với việc chuyển giao lao động thì giải quyết như thế nào? Trường hợp NLĐ sau khi được chuyển giao sang Công ty CP, làm đơn xin thôi việc tại Công ty CP thì có được hưởng trợ cấp thôi việc không? Công ty nào sẽ chịu trách nhiệm chi trả các khoản trợ cấp cho NLĐ?

Về vấn đề trên, Luật sư Lê Văn Đài, Văn phòng Luật sư Khánh Hưng - Đoàn Luật sư Hà Nội trả lời như sau:

Thông tin bà Nhữ Thị Thúy Lê cung cấp còn chưa rõ cơ sở pháp lý việc Công ty TNHH MTV bàn giao cho Công ty CP một nhà máy sản xuất, đặt giả thiết việc bàn giao này thuộc 1 trong 2 trường hợp sau đây:

Trường hợp thực hiện hợp đồng kinh doanh thương mại

Trường hợp Công ty TNHH MTV ký kết hợp đồng kinh doanh thương mại với Công ty CP, theo hợp đồng đó Công ty TNHH MTV có nghĩa vụ chế tạo, lắp đặt dây chuyền sản xuất và vận hành, chạy thử, bàn giao 1 nhà máy cho Công ty CP.

Ở trường hợp này, Công ty TNHH MTV có quyền điều động NLĐ của công ty đến làm việc tại Công ty CP để lắp đặt dây chuyền sản xuất, vận hành chạy thử, bàn giao dây chuyền sản xuất tại nhà máy đó cho Công ty CP. Tiền lương và các chế độ khác của NLĐ do Công ty TNHH MTV chi trả. Sau khi bàn giao công trình, NLĐ trở về Công ty TNHH MTV làm việc, tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động (HĐLĐ) đã ký với Công ty TNHH MTV.

Nếu Công ty TNHH MTV muốn chấm dứt HĐLĐ với số lao động này khi chưa hết thời hạn hợp đồng, thì phải thỏa thuận với NLĐ theo quy định tại khoản 3, Điều 36 Bộ luật Lao động (BLLĐ) hiện hành.

Trường hợp NLĐ đã chấm dứt HĐLĐ với Công ty TNHH MTV, nếu phía Công ty CP muốn sử dụng số lao động này, phải thỏa thuận, ký kết HĐLĐ với từng người lao động.

Nếu NLĐ không đồng ý chấm dứt HĐLĐ với Công ty TNHH MTV, thì Công ty phải tiếp tục thực hiện HĐLĐ đã ký với NLĐ, trừ trường hợp Công ty có cơ sở để đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ theo quy định tại Điều 37 BLLĐ.

Trường hợp chuyển quyền quản lý, sử dụng tài sản

Trường hợp Công ty TNHH MTV chuyển quyền quản lý, quyền sử dụng tài sản là nhà máy sản xuất cho Công ty CP theo sự điều chuyển của chủ sở hữu Công ty TNHH MTV.

Tại điểm i, khoản 1 Điều 64 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định một trong các quyền của chủ sở hữu công ty TNHH MTV (là tổ chức) có quyền quyết định thành lập công ty con, góp vốn vào công ty khác.

Theo hướng dẫn tại Điều 5 Thông tư số 117/2010/TT-BTC ngày 5/8/2010 của Bộ Tài chính thì Công ty TNHH MTV do nhà nước làm chủ sở hữu được quyền sử dụng tài sản (bao gồm tiền, tài sản cố định, tài sản lưu động và các tài sản khác) thuộc quyền quản lý của công ty để đầu tư ra ngoài công ty.

Trong trường hợp này, chủ sở hữu Công ty TNHH MTV được quyền điều chuyển quyền sử dụng tài sản là một nhà máy sản xuất, đầu tư vào Công ty CP. Công ty TNHH MTV được chuyển giao NLĐ đang làm việc tại nhà máy này sang Công ty CP quản lý, sử dụng.

Tại Điều 31 BLLĐ hiện hành quy định: Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện HĐLĐ với NLĐ.

Điểm c, khoản 3, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP quy định: Trường hợp sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 31 BLLĐ mà NLĐ chấm dứt HĐLĐ, thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho NLĐ kể cả thời gian NLĐ làm việc cho người sử dụng lao động liền kề trước đó.

Cách tính trợ cấp thôi việc

Theo quy định tại khoản 1 Điều 42 BLLĐ, hướng dẫn tại Điều 14 Nghị định 44/2003/NĐ-CP, Điều 2 Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH, thì khi chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương (nếu có); trừ đi thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 1/1/2009 theo quy định tại Nghị định số 127/2008/NĐ-CP.

Trường hợp, tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc có tháng lẻ thì được làm tròn: Từ đủ 1 tháng đến dưới 6 tháng làm tròn thành 1/2 năm; Từ đủ 6 tháng đến dưới 12 tháng làm tròn thành 1 năm.

Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương, tiền công theo HĐLĐ, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt HĐLĐ, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).

                                                                                           Luật sư Lê Văn Đài

                                                                  VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội

 

Bạn đọc có câu hỏi thắc mắc về các vấn đề chính sách, pháp luật xin nhấn vào đây để gửi cho NDHMoney.vn hoặc gửi trực tiếp về về địa chỉ cauhoi@ndh.vn để được các luật sư tư vấn trả lời.

Theo chinhphu.vn

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo