Thứ ba, 14/7/2020 | 22:40 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

EVFTA có hiệu lực Thành phố phía Đông Dịch viêm phổi cấp do virus nCoV Kết quả kinh doanh quý I/2020 Họp ĐHĐCĐ thường niên 2020
Thứ hai, 24/5/2010, 07:09 (GMT+7)

Bài học đầu tư của Anthony Bolton

Thứ hai, 24/5/2010, 07:09 (GMT+7)

Anthony Bolton không quá nổi tiếng để người Việt Nam nào cũng biết nhưng ông là một trong những nhà quản lý quỹ đầu tư nổi tiếng nhất Vương quốc Ạnh, và cũng là một trong nhà nhà đầu tư thành công nhất. Ông đã quản lý quỹ Fidelity Special Situations fund trong suốt 27 năm với lợi nhuận trung bình mỗi năm là 19.5% (trong khi benchmark thị trường là 13.5%).

 

                                                                 AnthonyBolton. Nguồn: Internet.

Phong cách đầu tư của Anthony là đầu tư giá trị và contrarian. Tư chất để Bolton trở thành một nhà quản lý danh mục đầu tư hoàn hảo là khả năng tư duy độc lập và kiên định trái ngược với đám đông.

Contrarian là một phong cách đầu tư đi ngược với xu thế thị trường hiện tại bằng cách mua vào những tài sản khi chúng diễn biến xấu và bán khi chúng diễn biến tốt.

Bolton, mệnh danh Peter Lynch của châu Âu, cho rằng tính khí là nhân tố cơ bản để phân biệt giữa một nhà quản lý tiền thành công và một nhà quản lý trung bình.


Những gì trong cuốn sách Investing Against the Tide năm 2009, thể hiện quan điểm đầu tư. Bài viết của Ryan C. Fuhrmann rút lại những bài học từ nhà quản lý quỹ này.

 Về cách phân tích và lựa chọn đầu tư, bài học đầu tiên là đó là làm hết mọi cách để có thể tìm ra những ý tưởng đầu tư, dù đó là những bài viết trên tạp chí định kỳ, nghiên cứu những văn bản gốc của công ty hay nói chuyện với ban lãnh đạo công ty hay việc đem so sánh với những khoản đầu tư cùng loại. Điều này giống với nhà đầu tư huyền thoại Peter Lynch, và trong tiếng Anh có thành ngữ là "Leave no stone unturned", tức là mình sẽ làm hết mọi cách để có được sự lựa chọn đầu tư tốt nhất.

Đối với Bolton, phần lớn rủi ro của danh mục nằm ở mức độ rủi ro của từng cổ phiếu. Ông bắt đầu phân tích cơ bản một công ty, tiền hành so sánh lợi thế cạnh tranh, ví dụ như thương hiệu lâu bền (giá trị franchise), và khả năng chịu đựng được những chu kỳ tuần hoàn của nững yếu tỗ vĩ mô mà không kiểm soát được. Điều này dẫn đến việc Bolton lựa chọn các doanh nghiệp về dịch vụ, và tránh những công ty mà đòi hỏi nhiều vốn như mà trong những ngành sản xuất. Ông cũng tránh lệ nợ cao mà có thể dẫn tới việc công ty tổn hại tài chính khi kinh tế suy giảm. Khả năng tạo ra dòng tiền với càng ít chi phí vốn là tiêu chí đầu tiên để xem xét điều này rất giống với nhiều nhà quản lý thành công khác mà nổi tiếng nhất là Warren Buffett.

Bolton là người coi trọng việc nghiên cứu những báo cáo gốc. Thực tế ở Việt Nam, đó là những báo cáo mà các công ty niêm yết nộp lên Sở Giao Dịch Chứng khoán. Tuy nhiên, chỉ có ở sàn Hồ Chí Minh là thực hiện nghiêm túc, các báo cáo được nộp và đăng tải trên website của HSX. Bolton chỉ ra rằng có rất nhiều thông tin bị mất khi thông qua báo cáo của môi giới, hay qua hàng loạt các trang thông tin truyền tải lại. Điều đó khá đúng với Việt Nam, vì theo kinh nghiệm, người môi giới thường gửi thông  tin cắt đầu, cắt đuôi. Hơn nữa, với đặc điểm kế toán Việt Nam có đôi khác với tiêu chuẩn của GAAP hay IFRS. Thậm chí ngay cả khi không có sự khác biệt này, thì cũng cần xem bản gốc, đặc biệt là các thuyết minh kèm theo vì các báo cáo có thể làm thổi phồng lên bằng cách thêm bớt các khoản tài sản vô hình, hay chi phí...

Bolton cho rằng trong một ngành mà luôn phải theo bám mục tiêu giá, và những phương pháp xác định giá trị chính xác thì ông thấy một khoảng giá trị nội tại thì hợp lý hơn. Ông cũng thấy rằng phương pháp chiếu khấu dòng tiền discounted-cash-flow valuation không hiệu quả, bởi vì chúng phụ thuộc vào dự đoán nhiều năm mà điều này thì rất khó đoán chính xác. Ở Việt Nam, phương pháp DCF đang được dùng phổ biến. Phương pháp này cũng không có tỉ lệ chính xác cao, mặc dù nó tốt hơn phương pháp tính tốc độ tăng trưởng cổ tức.

Về phong cách làm việc gắn với trò chuyện trực tiếp với những người quản lý của công ty, ta dễ nghĩ đến Warren Buffett, người luôn nhấn mạnh ý nghĩa của việc này. Lời khuyên của Buffett là bạn nên cảm thấy thoải mái như thể người quản lý đó sẽ kết hôn với con trai hay con gái mình, nghĩa  luôn chọn người cộng tác mà bạn  tin tưởng và đánh giá cao. Đánh giá về các nhà lãnh đạo, Bolton coi trọng những người mạnh mẽ và sát sao trong việc quản lý. Ông cũng thích những người có quan điểm cân bằng và phân minh, tức là nhìn cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của công ty, và sở hữu lượng cổ phần lớn.

Bolton thường phân tích 20 người nắm cổ phiếu nhiều nhất và mức độ tập trung cổ phiếu vào một số cổ đông nhất định hay phân tán rộng cho nhiều người. Những ai đang nắm cổ phiếu cũng là thông tin hữu ích, ví dụ như nếu biết được trong số đó có một nhà đầu tư giá trị thì đó là một điều có lợi.

Về quan điểm đầu tư, đầu tư không phải là đánh bạc, và cũng không nên quan niệm như vậy. Tuy vậy, rất nhiều cá nhân và tổ chức mua cổ phiếu như thể họ đang mua vé số hay đánh bài ở Las Vegas, không cẩn thận suy tính giữa lợi nhuận thu được và rủi ro kèm theo. Ở Việt Nam cũng vậy, người ta không gọi là đầu tư chứng khoán mà gọi là chơi chứng khoán. Hầu hết chỉ muốn mua, rồi dăm bữa nửa tháng bán chốt lời. Tuy nhiên, nhìn diện rộng thì đa phần họ sẽ thường lỗ, và gần đây, người ta lại lôi chuyện các tập đoàn Việt Nam đầu tư chứng khoán lỗ để luận tội.

Tuy nhiên, Anthony Bolton có những điểm khác so với các nhà đầu tư giá trị:

Bolton đề cao đa dạng hóa danh mục đầu tư. Danh mục của ông lên đến 200, mặc dù ông thừa nhận 50 là lý tưởng. Ở điểm này , Bolton có phần giống với phong cách đầu tư của John Templeton, tuy nhiên 200 có thể là một con số hơi quá lớn. Theo tôi, nhà đầu tư không nên tập vào một vài công ty. Như vậy, sẽ dẫn tới tỷ lệ sở hữu lớn, và sau này thoái vốn sẽ cũng rất khó. Tuy nhiên cũng không nên lên đến mức 200 vì khi đó, chúng ta sẽ mất rất nhiều thời gian để xây dựng danh mục, quản lý nó, hay thay đổi các cổ phiếu trong danh mục.

Điểm khác biệt thứ hai là Anthony Bolton cũng sử dụng các biện pháp phân tích kỹ thuật và ủng hộ việc dự đoán thị trường lên xuống, cả hai loại này ông dùng để là những quyết định chiến lược ngắn hạn .Ttuy nhiên, đối với các nhà đầu tư giá trị, điều này không phù hợp. Theo tôi, ở những thị trường như Việt Nam khi giá có xu hướng biến động mạnh và thị trường nhỏ thì việc sử dụng biện pháp kỹ thuật có thể giúp ích cho việc thoái vốn, hoặc can thiệp khi thị trường hoạt động không hiệu quả (ví dụ như thị trường đi xuống do tin đồn)...

Điềm khác nữa là thời gian năm giữ của ông khá ngắn 1-2 năm thay vì 3-5 năm. Tôi nghĩ nếu ở Việt Nam, 2-3 năm là thời gian hợp lí, vì trong một số trường hợp, 1 năm là một thời gian quá ngắn để đánh giá đầy đủ về một doanh nghiệp Việt Nam và Việt Nam là thị trường mới nổi nên giá biến động mạnh. Tôi nghĩ nên chọn một mức để chốt lời, nếu thị trường di chuyển thuận lợi đạt mức này, thì nên thoái vốn, và quay vòng đầu tư.
Hy vọng một vài bài học ở đây sẽ có thể áp dụng hiệu quả ở Việt Nam.

Theo Tài Chính Đầu Tư

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo