Chủ nhật, 17/11/2019 | 19:18 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Món Huế đóng cửa Kết quả kinh doanh quý III/2019 Cú lao dốc của FTM Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Chứng quyền có bảo đảm
Thứ năm, 12/7/2012, 14:54 (GMT+7)

Phát triển thủy điện nhỏ: Nhiều nỗi lo!

Thứ năm, 12/7/2012, 14:54 (GMT+7)

Diễn đàn diễn ra nhằm mục đích trao đổi và đưa ra những biện pháp tháo gỡ những vướng mắc và khó khăn của các nhà đầu tư thủy điện nhỏ.

Diễn đàn thu hút đông đảo sự tham gia của các DN, các cơ quan báo chí

 

Tới tham dự Diễn đàn có: Bà Phạm Thị Thu Hằng – Tổng Thư ký VCCI; Ông Trần Viết Ngãi – Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng VN; PGS.TS Đàm Xuân Hiệp- TTK Hội Điện lực Việt Nam, Hiệu trưởng Đại học Điện lực; Ông Hoàng Minh Tuấn – Chủ tịch Hội DN tỉnh Lào Cai; Chủ tịch HĐQT CTCP Nam Tiến; Ông Nguyễn Đức Đạt – Hiệp hội Năng lượng Việt Nam; Ông Lê Hữu Thuần - Phó Cục trưởng Cục quản lý Tài nguyên nước; Ông Vũ Ngọc Cừ - Phó Chủ tịch Hội DN tỉnh Lào Cai cùng đông đáo các DN hoạt động trong lĩnh vực thủy điện.

Tính đến nay, cả nước có hơn 200 dự án thuỷ điện vừa và nhỏ với tổng công suất 4.067MW đăng ký đầu tư. Nếu được đầu tư thích đáng, thuỷ điện nhỏ không chỉ tạo thu nhập cho người dân, giải quyết nhu cầu năng lượng ở quy mô gia đình và cộng đồng nhỏ vùng trung du miền núi mà còn góp phần bổ sung nguồn năng lượng thiếu hụt cho Nhà nước. Ngoài ra, các nhà máy thủy điện nhỏ được xây dựng hầu hết ở vùng núi, nơi kinh tế xã hội còn chậm phát triển. Việc xây dựng các công trình thủy điện còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của các khu vực này. Tuy nhiên, hiện nay, do những bất cập trong quản lý thuế tài nguyên nước và trong cách tính giá bán điện thương phẩm đã dẫn đến thực trạng khó khăn chung cho các nhà đầu tư thủy điện nhỏ.

Phát biểu tại Diễn đàn, TS Phạm Thị Thu Hằng – Tổng thư ký VCCI cho biết: "tiềm năng thuỷ điện vừa và nhỏ ở nước ta rất lớn. Thuỷ điện nhỏ không chỉ tạo thu nhập cho người dân, giải quyết nhu cầu năng lượng ở quy mô gia đình và cộng đồng nhỏ vùng trung du miền núi mà còn góp phần bổ sung nguồn năng lượng thiếu hụt cho Nhà nước. Ngoài ra, các nhà máy thủy điện nhỏ được xây dựng hầu hết ở vùng núi mà còn góp phần bổ sung nguồn năng lượng thiếu hụt cho nền kinh tế, nơi kinh tế xã hội còn chậm phát triển. Ngoài ra, việc xây dựng các công trình thủy điện ở vùng núi còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội các khu vực này.

Tuy nhiên, trong chu trình đầu tư – sản xuất – bán điện, do những bất cập về chính sách trong quản lý thuế tài nguyên nước và trong cách tính giá điện thương phẩm đã dẫn đến thực trạng khó khăn chung cho các nhà đầu tư thủy điện nhỏ.

Với sự tham gia của các Bộ, ngành, các chuyên gia trong lĩnh vực thủy điện, thông qua Diễn đàn này chúng tôi mong muốn sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp thủy điện nhỏ cũng như các doanh nghiệp thủy điện nói chung có dịp gặp gỡ, trao đổi về những khó khăn, vướng mắc của mình, để trên cơ sở đó Ban Tổ chức tập hợp những kiến nghị từ doanh nghiệp, trình Chính phủ mong tìm ra những giải pháp hợp lý, tạo điều kiện cho thủy điện nhỏ hoạt động hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển thủy điện nói riêng và năng lượng nói chung. Từ đó hương đến mục tiêu cung cấp đủ nhu cầu điện cho phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia".

Thực trạng đầu tư thủy điện vừa và nhỏ

Diễn đàn tiếp tục được thu hút với những thông tin thực trạng đầu tư thủy điện nhỏ ở nước ta hiện nay. Ông Nguyễn Đức Đạt – Hiệp hội Năng lượng Việt Nam đã nêu lên một số đặc điểm về thủy điện vừa và nhỏ như quy mô không lớn, diện tích lưu vực nhỏ, mặt bằng xây dựng thuỷ điện vừa và nhỏ không lớn, diện tích chiếm đất không nhiều do quy mô công trình và khối lượng xây dựng không lớn, hiệu quả đầu tư thuỷ điện vừa và nhỏ không cao bằng thuỷ điện lớn.

Từ những đặc điểm đã nêu, ông Đạt cũng đã đưa ra những vấn đề cần lưu ý khi đầu tư phát triển thủy điện vừa và nhỏ. Theo ông, trước hết, chủ trương đầu tư phải gắn với hiệu quả đầu tư. Thuỷ điện vừa và nhỏ giữ vai trò đáng kể trong nguồn điện nói chung và nguồn thuỷ điện nói riêng. Trong Quy hoạch điện VII đã đặt ưu tiên phát triển các nguồn thuỷ điện trong đó có thuỷ điện vừa và nhỏ. Vấn đề là đầu tư phát triển như thế nào, những dự án nào để có hiệu quả và bảo vệ môi trường?. Theo ông, trong những năm qua, chúng ta đã đầu tư xây dựng và đưa vào vận hành gần 30 công trình thuỷ điện lớn trên 100 MW và trên 200 dự án thuỷ điện vừa và nhỏ với tổng công suất tất cả thuỷ điện gần 10.000 MW, với tổng điện lượng trên 40 tỉ kwh. Và như vậy chúng ta đã khai thác khoảng 40-50 % trữ năng kinh tế. Riêng sản lượng điện năm 2011 phát ra từ các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ đạt mức 7,845 tỉ kwh, chiếm 19% tổng lượng điện phát ra từ nguồn thuỷ điện, chiếm trên 7% sản lượng điện toàn hệ thống và đạt khoảng 45% trữ năng kinh tế của thuỷ điện vừa và nhỏ. Đây là những con số hết sức có ý nghĩa.

Trong thực tế, hầu hết các công trình thuỷ điện có hiệu quả kinh tế cao nhất, có điều kiện thuận lợi nhất chúng ta đã đầu tư xây dựng. Phần còn lại là những công trình hiệu quả thấp hơn, các điều kiện kinh tế kỹ thuật khó khăn hơn, các công trình ở vùng sâu vùng xa, đi lại khó khăn hơn. Các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ cũng nằm trong tình trạng đó. Do đó, các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ chủ đầu tư cần xem xét một cách kỹ lưỡng rồi mới quyết định đầu tư. Mặt khác, xét về mặt phát triển xã hội, xây dựng các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của những vùng sâu, vùng xa. Vì thế, nhà nước cần có chính sách hỗ trợ để phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ.

Thứ hai, đầu tư phát triển thuỷ điện vừa và nhỏ phải gắn liền với bảo vệ môi trường. Và nên chăng cần phải có quy định mức tối đa diện tích rừng bị phá cho từng loại dự án thuỷ điện và quy định cơ quan cấp phép tương ứng.

Thứ ba, chế độ làm việc của các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ trong hệ thống điện gắn liền với giá bán điện và hiệu quả kinh tế của công trình. Biết rằng, các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ thường không có hoặc có hồ điều tiết nhưng với dung tích bé thường phù hợp với chế độ chạy lưng hoặc chạy phủ đỉnh trong biểu đồ phát điện của hệ thống. Với chế độ phát điện như vậy, chúng ta sẽ phát huy được hết vai trò của mình trong hệ thống, đồng thời được hưởng mức giá điện cao hơn. Bộ công thương đã có quyết định phê duyệt và cho áp dụng ”biểu giá điện tính theo chi phí tránh được” là một sự quan tâm lớn đối với các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ nói chung và các nhà máy thuỷ điện có công suất dưới 30 MW nói riêng. Làm như vậy tức là khuyến khích các nhà đầu tư quan tâm hơn tới các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ.

Đồng quan điểm, ông Vũ Ngọc Cừ - Phó Chủ tịch Hội DN tỉnh Lào Cai cũng nhận định, đầu tư thuỷ điện không hề đơn giản, bởi suất đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài, phần lớn các dự án thuỷ điện nằm ở vùng sâu, vùng xa, địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn, đường điện đấu nối truyển tải xa. Bên cạnh đó hệ thống truyền tải điện chưa đáp ứng nhu cầu đấu nối từ các nhà máy thuỷ điện... Mặt khác, hạ tầng cơ sở trong khu vực nông thôn miền núi quá yếu kém nên công tác vận chuyển vật tư thiết bị và cấp điện thi công không đơn giản. Ngoài ra, việc đầu tư thuỷ điện còn chịu nhiều yếu tố như: Trượt giá do suy thoái kinh tế, chính sách tín dụng, thiên tai lũ lụt, hạn hán kéo dài..... dẫn đến nhiều nhà đầu tư lo lắng khi nhà máy thủy điện hoàn thành sẽ không có đầu ra.

Mặc dù gọi là các dự án thuỷ điện vừa và nhỏ, nhưng về vốn đầu tư, với giá cả hiện nay đầu tư tại địa bàn miền núi Lào Cai là từ 25 - 30 tỷ đồng/1MW, không kể tiền đầu tư đường dây truyền tải đến điểm đấu nối với điện quốc gia (đường dây 35kv hoặc 110kV tuỳ theo công suất của từng nhà máy).

Nói riêng về đặc điểm địa phương, theo ông Cừ, Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới, tiềm năng phát triển thuỷ điện của các sông suối trên địa bàn tỉnh có nhiều thuận lợi. Việc đầu tư thuỷ điện nhỏ là rất cần thiết, không những đáp ứng được nhu cầu năng lượng tại chỗ, đóng góp bổ sung nguồn điện cho đất nước, tạo nhiều việc làm mới cho nhân dân địa phương, mà còn tạo ra nguồn thu ngân sách đáng kể thông qua thuế, về mặt xã hội góp phần nâng cao dân trí của nhân dân địa phương, giao thông địa phương được cải thiện, tạo ra cảnh quan môi trường thúc đẩy phát triển du lịch và các hoạt động kinh tế khác. Điều đáng nói nữa là các dự án thuỷ điện nhỏ ở địa phương đóng góp không nhỏ vào chương trình chung tay xây dựng “Nông thôn mới” của Chính phủ.

Để giải quyết khó khăn, đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư thuỷ điện vừa và nhỏ, ông Vũ Ngọc Cừ đã đưa ra các kiến nghị: Ban hành khung giá mua điện hợp lý để giảm bớt những khó khăn cho các nhà đầu tư thuỷ điện vừa và nhỏ. Chỉ đạo ngành điện đầu tư xây dựng và cải tạo nâng cấp lưới điện 220kV và 110kV có đủ khả năng truyền tải điện từ các dự án thuỷ điện khi đã hoàn thành. Hiện lãi suất đã hạ rất nhiều nhưng nhiều DN thủy điện nhỏ khó tiếp cận nguồn vốn. Vì vậy Chính phủ cần cơ chế riêng đối với các khoản vay của các DN thủy điện nhỏ tại các vùng nông thôn, miền núi. Đề nghị hỗ trợ lãi suất sau đầu tư cho các nhà máy thủy điện nhỏ. Đặc biệt, đề nghị Bộ tài chính xem xét về chính sách thuế tài nguyên nước, theo quyết định số 284/QĐ-BTC ngày 14/2/2012 của Bộ tài chính, giá điện thương phẩm tính thuế tài nguyên nước năm 2012 là 1.304đ/1kW trong khi đó giá điện thương phẩm theo quyết định số 06/QĐ-ĐTĐL ngày 19/1/2012, các thuỷ điện vừa và nhỏ của Lào Cai chỉ bán với giá điện bình quân mùa khô và mùa mưa là 866đ/1kW. Như vậy số tiền điện để tính thuế Tài nguyên nước chênh lệc rất lớn so với giá bán điện thực tế của các nhà máy.

Trong khi nhu cầu đầu tư cho phát triển điện lực phục vụ cho phát triển kinh tế và công nghiệp hóa là rất lớn thì vấn đề nguồn vốn đóng vai trò quan trọng. Theo PGS.TS Đàm Xuân Hiệp, nguồn vốn cho phát triển ngành điện có thể huy động theo mấy cách chủ yếu sau: Tự tích lũy từ bản thân ngành điện gồm từ lợi nhuận do bán điện và khấu hao; vay vốn trong và ngoài nước từ các ngân hàng hoặc từ phát hành trái phiếu; Đầu tư tư nhân dưới dạng BOT, TPP…hoặc phát hành cổ phiếu (trên cơ sở cổ phần hóa); Nhà nước đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách. Thực tế ở Việt Nam cả 3 cách đầu tiên đều được áp dụng, vậy mà ngành điện điện vẫn phát triển một cách “nhọc nhằn” và luôn ở trong trạng thái “đói vốn”. Mặc dù do nhiều nguyên nhân khác nhau song ông Hiệp cho rằng nguyên nhân chủ yếu là do giá điện ở nước ta còn thấp. Tuy không phải là nước có giá điện thấp nhất nhưng Việt nam hiện nay nằm trong số ít các nước giá điện thấp, thậm chí là rất thấp so với nhiều nước trên thế giới.

Ông Hiệp lý giải, cũng vì giá thấp nên thời gian trả nợ (vay vốn ngân hàng) thường phải kéo dài. Do đó, nhiều ngân hàng khó có thể chấp nhận. Chưa kể hầu hết các ngân hàng ở Việt Nam về lực rất yếu, trong khi các ngân hàng nước ngoài gần như chưa vào cuộc (nếu có thì họ cũng tìm cách “tạo sức ép”). Như vậy, để có vốn cho đầu tư phát triển điện chỉ còn mỗi cách là tăng giá điện.

Theo ông, có 2 việc mà ngành điện phải làm đồng thời khi tăng giá điện: Thứ nhất, cải tạo lại biểu giá điện (có nghĩa là cấu trúc lại biểu giá) và định giá theo thời gian sử dụng. Nhà nước cũng có thể quy định về cơ chế “tự động điều chỉnh giá hàng năm” như một số nước vẫn làm, trong đó giá năm nay (một số dịch vụ nào đó) tự động tăng theo mức tăng của chỉ số tiêu dùng(hoặc chỉ số lạm phát) của năm trước đó….Thứ hai, là tái cấu trúc và cải tổ ngành điện. Cách này phải làm từng bước và có lộ trình.

Kiến nghị từ doanh nghiệp

Có mặt tại Diễn đàn, ông Hà Sỹ Dinh - Công ty cổ phần phát triển năng lượng Sơn Vũ đã chia sẻ hai vấn đề mà chính những DN như ông gặp phải. Ông cho biết, với những DN thủy điện nhỏ, vấn đề vốn cho dự án vô cùng khó khăn. Quy định các tổ chức tín dụng chỉ cho vay tối đa 70% (trước thuế và lãi vay) phần còn lại là vốn do doanh nghiệp bỏ vào. Chúng ta gọi là thủy điện nhỏ <30Mw thì tổng mức đầu tư hiện nay cũng sấp sỉ gần 1000 tỷ đồng, Chủ đầu tư phải chứng minh được vốn tự có 300 tỷ ngoài ra phải có tài sản đảm bảo khác (ngoài dự án) có giá trị tối thiểu 10% giá trị khoản vay vốn mới có thể vay được vốn của ngân hàng. Như vậy tổng cộng DN phải huy động bằng tiền mặt và tài sản tương ứng tối thiểu 40% tổng mức đầu tư.

“Có lẽ đây là con số yêu cầu khá đối lớn so với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh sau đợt “lũ quét” về khủng hoảng và suy thoái kinh tế trong thời gian qua, chắc cũng phải mất một số năm nữa thì các doanh nghiệp mới có thể vực lại được” – ông nhận định.
Để giải quyết vấn đề này tôi thiết nghĩ các cơ quan quản lý nhà nước cần có được một chính sách ưu tiên nhất định cho phát triển thủy điện vừa và nhỏ là vì: Việc phát triển các nguồn điện đang chậm chễ và các nguồn nhiên liệu như khí, than và các nhiên liệu thay thế khác đang cạn kiệt quá nhanh. Việc phát triển các dự án thủy điện có quy mô lớn tiềm ẩn nhiều rủi ro tới các chủ đầu tư và môi trường, dân sinh, vốn lớn…

Với lý lẽ như trên, DN chúng tôi mong muốn các cơ quan quản lý nhà nước có những chính sách khuyến khích đầu tư, hỗ trợ thị thường điện, các quy định khác nhau về tài chính, các vấn đề trong quá trình thực hiện đầu tư và sau đầu tư để các doanh nghiệp có thế tiếp tục duy trì hoạt động của mình với những mục tiêu cụ thể như sau: Ân hạn thời gian trả gốc cho các dự án để lấy nguồn kinh phí duy trì và phát triển các hoạt động của doanh nghiệp; Giảm lãi xuất tại các tổ chức tín dụng (đang thực hiện); Tăng giá bán điện cho đúng với giá trị thật của nó; Đầu tư xây dựng các đường truyền tải đã có quy hoạch của EVN; Có phương án tháo gỡ cho DN về việc quản lý đường dây và trạm do doanh nghiệp đã đầu tư; Giảm tỷ lệ phần vốn đối ứng của DN để đầu tư vào dự án trong thời gian tới; Có chính sách miễn giảm thuế, gia hạn thời gian trả nợ thuế cho các DN thủy điện.

“Chính phủ cho phép các thành phần kinh tế đầu tư vào thủy điện nhỏ, bên cạnh những chính sách khuyến khích của Nhà nước, các nhà đầu tư thủy điện nhỏ như chúng tôi đã và đang gặp nhiều khó khăn” - TS. Lê Trường Thủy - Chủ tịch HĐQT, Giám đốc CTCP Thủy điện Mai Châu (Hòa Bình); Phó chủ nhiệm câu lạc bộ thủy điện Việt Nam chia sẻ tại Diễn đàn.

Ngoài những khó khăn đã được chia sẻ tại diễn đàn như khó khăn lớn về vốn đầu tư, về đấu nối đầu tư mạng lưới quốc gia; thì một khó khăn khác cũng được ông Thủy đề cập tới đó là cạnh tranh nhau bán, thủy điện nhỏ lép vế. Theo ông, từ 1/7/2012 thị trường phát điện cạnh tranh đã chính thức đi vào hoạt động. Tại quyết định số 30/QĐ-ĐTĐL của Cục Điều tiết Điện lực đã ban hành danh sách 29 nhà máy điện tham gia trực tiếp vào thị trường phát điện cạnh tranh, 26 nhà máy điện tham gia gián tiếp, 18 nhà máy tham gia tạm thời gián tiếp và 20 nhà máy điện dự kiến tham gia thị trường phát điện cạnh tranh. Nhìn vào danh sách này có thể thấy cơ hội bán điện dành cho các nhà máy thủy điện nhỏ là rất ít, nên khó có thể gọi là thị trường phát điện cạnh tranh khi mà người mua “một mình một chợ” với những người bán được chỉ định sẵn.

Ông Phạm Công Nhân – Chủ tịch Hội DN Hà Giang đưa ra một số kiến nghị với Nhà nước và ngành điện taoọ chơ chế để các DN, các nhà máy thủy điện huy điện vốn cùng tham gia đầu tư hệ thống truyền tải điện theo hình thức như sau: Dối với các nhà máy thủy điện có đường dây tải điện tử nhà máy đến điểm đấu nối từ 3 km trở lại thì ngành điện mua theo gái quy định chung. Nếu điểm đấu nối xa hơn từ 3km trở lên thì cứ 1km ngành điện mua tăng giá lên từ 0.7-1% theo giá chung. Nhằm giảm bớt khó khăn thiệt thòi cho các nhà máy điện ở xa đường dây quốc gia, mà ngành điện không phải bỏ tiền ra đầu tư lớn một lần. Đối với các trạm biến thế và đường dây đã xây dựng xong, nhưng cần cải tạo lại nâng cấp mà ngành điện chưa đủ tiền đầu tư xây dựng thì các nhà máy nên cùng chia sẻ với ngành điện bằng cách cho ngành điện vay tiền theo lãi suất trung hạn của ngân hàng số tiền huy động cho vay. Các nhà máy đóng góp theo công suất. Ví dụ 1MW – 200 triệu, 20MW – 4 tỷ…Như thế ở địa bàn Hà Giang có thể huy động được trên 20 tỷ...

Ông Đỗ Văn An - Công ty cổ phần quan hệ quốc tế đầu tư và phát triển chia sẻ, các DN thủy điện nhỏ phải vay vốn rất nhiều (tới 60% vốn). Do đó, các DN ‘ốm’ và ‘chết’ cũng khá nhiều và ‘bị tật’ cũng không ít mà. Từ phía tiếng nói của DN, chúng tôi kiến nghị Chính phủ và Nhà nước nên bỏ ngay hệ thống CIC (Trung tâm thông tin tín dụng). CIC có hại cho hầu hết các doanh nghiệp, chỉ dùng CIC cho từng ngân hàng thôi.

Ông An cũng kiến nghị ngành điện nên có chính sách ưu đãi cho các dự án thủy điện có trong nhóm nghị định 75. Cần phá bỏ độc quyền ngành điện và cố gắng đến năm 2015 thì làm được điều đó chứ không nên kéo dài tới năm 2020.

Kết luận tại Diễn đàn, TS Phạm Thị Thu Hằng - Tổng thư ký VCCI khẳng định: các DN thủy điện thực tế đang gặp nhiều khó khăn về vốn, về thị trường, hệ thống chính sách, hệ thống quản lý tài nguyên,.. và những vấn đề này lại càng trở nên khó khăn hơn ở phía các DN thủy điện nhỏ. Sau diễn đàn này, VCCI sẽ hệ thống lại các ý kiến từ phía các DN để có các kiến nghị lên cơ quan chức năng mà trước hết là để giải quyết các vấn đề về vốn cho các DN đặc biệt là DN thủy điện nhỏ.
 

Theo N.Phương - Hồ Hường - DĐDN

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo