Thứ hai, 21/9/2020 | 18:53 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

BĐS khu công nghiệp 20 năm thị trường chứng khoán Việt Nam 25 năm Việt - Mỹ Kết quả kinh doanh quý II/2020 EVFTA có hiệu lực
Chủ nhật, 30/9/2018, 16:09 (GMT+7)

Lý do Vinamilk chọn hai thị trường Myanmar và Indonesia

Khổng Chiêm Chủ nhật, 30/9/2018, 16:09 (GMT+7)

Công ty cổ phần Sữa Việt Nam - Vinamilk (Mã: VNM) đang tìm kiếm cơ hội mở rộng doanh số tại các thị trường quốc tế như Myanmar, Indonesia thông qua việc thành lập liên doanh với các công ty bản địa. Bên cạnh các sản phẩm truyền thống sữa đặc, sữa bột thì sữa chua là dòng sản phẩm được VNM chú trọng đẩy mạnh tại thị trường quốc tế.

Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) dẫn dự báo của Euromonitor rằng ngành hàng sữa chua sẽ dẫn đầu mức tăng trưởng khu vực Đông Nam Á trong các năm tới.

Cơ cấu dân số tại Indonesia và Myanmar khá tương đồng với Việt Nam khi đều là những thị trường tiềm năng cho các nhà sản xuất sữa. Dân số đông với tốc độ gia tăng dân số lớn (0,87%/năm đối với Myanmar và 1,12%/năm tại Indonesia). Cơ cấu dân số trẻ với độ tuổi dưới 15 chiếm khoảng 27% tổng dân số, đây là lứa tuổi “vàng” với nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm từ sữa cao nhất cả nước.

Đồng thời, mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người tại hai quốc gia này gần như thấp nhất so với các nước trong khu vực, chỉ vào khoảng 10 - 11 lít/người/năm so với mức tiêu thụ 22 lít/người/năm tại Philippines hay Singapore với 45 lít/người/năm.

Thị trường Myanmar sơ khai với thói quen tiêu dùng sản phẩm sữa còn thấp

Theo báo cáo của VDSC, ngành sữa tại Myanmar vẫn đang trong giai đoạn đầu của sự phát triển. Gần 85% sản lượng sữa đến từ các trang trại bò sữa tại Mandalay, Yangon, Naypyidaw với cơ sở chế biến nhỏ lẻ. Vì thế việc kiểm soát chất lượng sản phẩm sữa nguyên liệu đầu vào vẫn còn khá hạn chế.

Theo báo cáo của Frontier, hơn 300 trẻ em trong số 835 trẻ em tiểu học (khoảng 36%) tại Myanmar uống sữa ít hơn 1 lần/tuần. Rõ ràng thị trường Myanmar vẫn còn khá tiềm năng khi thói quen tiêu dùng sữa và các chế phẩm từ sữa khá thấp.

Các sản phẩm sữa được tiêu thụ chính tại thị trường này bao gồm sữa tươi, sữa đặc, sữa chua và kem. Trong đó sữa tươi và sữa đặc phổ biến hơn cả nhờ vào thói quen sử dụng đồ uống kết hợp sản phẩm từ sữa với trà và cà phê. Sữa chua công nghiệp chỉ đại diện cho một thị trường ngách khi người dân vẫn còn thói quen tiêu dùng sữa chua nhà làm.

Vì vậy, thách thức đặt ra cho VNM tại thị trường này là phải nâng cao nhận thức người dân trong việc tiêu dùng sản phẩm sữa, đặc biệt là sản phẩm sữa công nghiệp đã được chứng nhận về chất lượng. Đồng thời VNM cần đẩy mạnh quảng bá thương hiệu và tận dụng hệ thống phân phối sẵn có từ phía đối tác để giới thiệu sản phẩm của mình đến tay người tiêu dùng.

Thị trường Indonesia có sức tiêu thụ lớn

Doanh số tiêu thụ sản phẩm sữa và các chế phẩm từ sữa tại Indonesia đã tăng 12,5% trong vòng 5 năm qua. Dự báo tốc độ tăng trưởng này vẫn sẽ tiếp diễn và ngành hàng sữa chua sẽ dẫn đầu mức tăng trưởng trong các năm tới với CAGR khoảng 10,3%.

Trong đó, sữa chua có hương vị được ưa chuộng hơn các sản phẩm sữa chua trắng truyền thống. Sản phẩm sữa chua Hy Lạp (Greek yogurt) với hương vị độc đáo, thành phần dinh dưỡng cao cùng hàm lượng chất béo thấp đang được người tiêu dùng Indonesia đón nhận rất tích cực. VDSC cho rằng đây có thể là lý do khiến VNM nghiên cứu phát triển vị sữa chua mới này và tung ra sản phẩm tương tự tại thị trường Việt Nam trong nửa đầu năm nay.

Dù được đánh giá là thị trường tiềm năng với tốc độ tăng trưởng cao nhưng ngành sữa tại Indonesia đang chịu sự phân hóa lớn khi 77% thị phần toàn ngành đang tập trung vào 4 ông lớn Nestlé, Frisian Flag Indonesia, Ultrajaya Milk Industry và Indolakto PT. Trong đó, 2 doanh nghiệp đa quốc gia Nestlé và Frisian Flag Indonesia đang thống lĩnh thị trường với thị phần lần lượt là 26% và 21%.

Dù đã có kinh nghiệm cạnh tranh với các ông lớn ngành sữa thế giới nhưng VNM sẽ không có nhiều lợi thế khi phải đối đầu với các công ty khác ở thị trường nước ngoài. VNM cần phải nỗ lực nhiều hơn để hiểu rõ đặc tính tiêu dùng tại thị trường bản địa, nghiên cứu và tung ra các sản phẩm phù hợp để xúc tiến phát triển ở những thị trường mới.

Từ năm 1997 đến nay, tổng kim ngạch xuất khẩu của Vinamilk đã đạt khoảng 2 tỷ USD (tương đương khoảng 45.520 tỷ đồng). Đến nay, Vinamilk đã được xuất khẩu đi 43 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có những quốc gia yêu cầu cao về chất lượng trong sản phẩm dinh dưỡng như Nhật, Canada, Mỹ, Úc, Thái Lan...

Thu Thảo

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo