Thứ sáu, 22/10/2021 | 04:31 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Kết quả kinh doanh quý III/2021 Một thập kỷ của ngành ngân hàng Cuộc khủng hoảng thanh khoản tại Evergrande Lạm phát - mối lo mới của thị trường thế giới
Thứ sáu, 21/9/2012, 11:25 (GMT+7)

Báo động năng lực hấp thụ vốn

Thứ sáu, 21/9/2012, 11:25 (GMT+7)

Trao đổi với DĐDN trước thêm Diễn đàn “Kết nối ngân hàng - DN: Cơ hội vốn cuối năm 2012” được tổ chức ngày 20/9, TS Nguyễn Đại Lai - Chuyên gia kinh tế, tài chính cho rằng: cả nền kinh tế đang trong trạng thái tổng quát: “thừa vốn, thừa hàng và thiếu tiền”. Vấn đề tăng khả năng hấp thụ vốn của DN và giải quyết tình trạng “kẻ ăn không hết, người lần không ra” trong việc tiếp cận vốn ngân hàng - vấn đề vô cùng bức xúc và khó đáp ứng trong ngắn hạn.

 

Theo ông Lai, sự suy giảm của nền kinh tế do đó đã và đang bộc lộ rất rõ. DN lao đao thì ngân hàng cũng không thể sống yên lành. Cả ngành ngân hàng hiện đang tích cực tìm khách hàng và hạ lãi suất để bơm vốn, cứu DN tức là để tự cứu mình.

- Thưa ông, ở góc độ một chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đã nhiều năm, ông đánh giá như thế nào về năng lực hấp thụ vốn của các DN VN hiện nay?

Theo tôi, năng lực hấp thụ vốn của DN VN đang trong tình trạng báo động. Theo số liệu về tình hình hoạt động trong 6 tháng đầu năm được Tổng cục Thống kê công bố tại buổi lễ ngày 29/6 về “Công bố số liệu Kinh tế - Xã hội 6 tháng đầu năm”, cho thấy, 6 tháng đầu năm số DN giải thể, ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh lên tới 26.324 DN, chiếm khoảng 5,3% tổng DN đang hoạt động và tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, đáng chú ý nhất là số DN giải thể tăng tới 35,4%. Riêng tháng 6 có 4.100 DN phá sản, bằng 15,6% so với con số DN ngừng hoạt động trong 6 tháng. Tình hình kinh tế khó khăn cũng được phản ánh khá rõ nét qua việc số lượng DN đăng ký thành lập mới 6 tháng giảm 12,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Báo cáo kinh tế VN 2012 của Ủy ban Kinh tế Quốc hội phối hợp với UNDP cũng đã lần đầu tiên ghi nhận thực tế: “người dân và DN VN đang phải gánh mức thuế, phí cao nhất trong khu vực”.

Thực tế, năng lực hấp thụ vốn thực của rất nhiều DN sản xuất đã rất kém: vốn cũ chưa trả hết, vốn mới không đủ điều kiện tiếp cận, nhiều DN không có thị trường đầu ra để tiếp tục tăng kho hàng hóa vốn dĩ đã ứ thừa (nhất là hàng BĐS). Trong gần 500 DN niêm yết trên các sàn chứng khoán, trong báo cáo kết quả kinh doanh quí 1, có 13% DN lỗ, 54% giảm lợi nhuận so cùng kỳ, hệ số tổng nợ/vốn chủ sở hữu giảm mạnh từ bình quân 1,5 xuống còn 1,27… nghĩa là nhiều DN đã giảm năng lực hấp thụ vốn.

Tình trạng huy động vốn tăng nhưng tăng trưởng tín dụng vẫn “dậm chân tại chỗ”, chứng tỏ vốn vẫn dùng vào đảo nợ và chạy lòng vòng trong thị trường tài chính. Thống kê trong 5 năm trở lại đây, mức tăng trưởng tín dụng của ngành ngân hàng lần lượt là: năm 2007 tăng: 51%, năm 2008: 30%, năm 2009: 37%, năm 2011: 12%. Trong khi năm 2012 tính đến ngày 20/8/ 2012, tín dụng của hệ thống ngân hàng mới tăng 1,4% so với 31/12/ 2011. Hơn nữa, gần đây dù hàng loạt NHTM đã tung ra những chương trình tín dụng với lãi suất giảm cực mạnh, vẫn không làm gia tăng được tín dụng một cách đáng kể và an toàn theo kỳ vọng. Cạnh tranh trong cho vay giữa các NHTM vì thế trở nên khốc liệt hơn.

- Vậy ông có thể lý giải nguyên nhân của thực trạng này ?

Trong bối cảnh lạm phát liên tục những năm qua (2008, 2010, 2011) đã làm cho tiền buộc phải chui vào hàng hoá chỉ đơn giản để làm phương tiện thanh toán (do giá tăng) thay vì chui vào ngân hàng để đi ra sản xuất, tạo ra hiện tượng “tiền nhiều vốn ít”, làm cho thanh khoản trong các ngân hàng luôn căng thẳng và căng thẳng càng gia tăng bởi kèm với tăng lạm phát thì nợ xấu cũng đã không ngừng tăng lên.

Trong những năm lạm phát vừa qua, muốn có vốn hoạt động, không có cách nào khác, nền kinh tế đã phải đi qua đồng thời cả 3 kênh là: giảm lạm phát (tức là phải tăng giá vốn), tăng tiền gửi và tăng tái cấp vốn (MB). Điều này khẳng định lạm phát đã là nguyên nhân rất lớn gây nên tình trạng tăng lãi suất. Ngược lại, lãi suất tăng đã là hòn đá tảng cho sự tiếp cận của DN với ngân hàng (lạm phát theo năm: 2007:12,7%; 2008:18,98%; 2009: 6,88%; 2010:11,75%; 2011:18,58%, cao hơn lạm phát bình quân cùng thời kỳ của các nước trong khu vực từ 2 đến 4 lần).

Tình trạng này nếu không được nhận dạng và có giải pháp thỏa đáng bằng cách có chính sách tác động vào tổng cung, tổng cầu để dẫn dắt và tôn trọng qui luật thị trường, thì sẽ dẫn đến một trong hai thái cực tiêu cực rất nguy hiểm không thua kém nhau. Hoặc là “vung tay” nới lỏng tiền tệ quá mức để lạm phát siêu mã dùng “tiền đè hàng” mà đẻ ra hàng thì luôn luôn khó hơn đẻ ra tiền; hoặc là tiếp tục bóp chặt gây ra giảm phát làm cho nền kinh tế không tạo ra được giá trị mới, sản phẩm dở dang và tồn kho lớn do thu nhập thấp, sức mua yếu, người lao động không có tiền, thất nghiệp cao và xã hội rối loạn.

- Thị trường hàng hóa, dịch vụ thì cung đang lớn hơn cầu, thị trường vốn thì ứ đọng. Vậy theo ông, đâu là giải pháp để giải tỏa cái “vòng luẩn quẩn” này ?

Theo tôi, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng nên nghiên cứu những giải pháp sau:

Thứ nhất, Chính phủ cần có chính sách kích cầu và coi đây là giải pháp cấp bách cần phải thực hiện.

Thứ hai, Ngân hàng nhà nước (NHNN) nên làm đầu mối mua vốn của NHTM thừa với lãi suất bằng lãi suất tái cấp vốn (TCV) do NHNN ấn định trừ đi 1% và bán lại cho NHTM thiếu bằng hoặc xấp xỉ lãi suất TCV cùng kỳ, không cao hơn lãi suất cho vay ngoài thị trường 1, vừa phát huy vai trò quản lý nhà nước, vừa đúng nghiệp vụ điều tiết, mua - bán cuối cùng trên thị trường 2 của NHNN, nhằm định hướng tiếp tục giảm lãi suất VND ở cả thị trường 2, thị trường 1 và chống lại hiện tượng “cá lớn nuốt cá bé” ngay trong ao nhà.

Thứ ba, Hiệp hội Ngân hàng (HHNH) nên được bổ sung chức năng tổ chức thị trường mua – bán nợ lẫn nhau. Theo đó, HHNH có thể thành lập một Cty mua bán nợ/hoặc Cty môi giới mua bán nợ để làm đầu mối khai thác các khoản vốn phải thu - phải trả chưa đáo hạn của NHTM này bán cho NHTM khác để bên bán tạo được vốn tức thời ngay trước khi đáo hạn và giảm tải cho thị trường tín dụng liên ngân hàng, bên mua vừa giảm được chi phí giải ngân, vừa đóng vai trò “tiếp quản” mọi quyền lợi của khoản nợ tới ngày đáo hạn và xử lý rủi ro (nếu có) do món nợ đó để lại mà vẫn giảm được lãi suất do giảm chi phí hoạt động tín dụng...

Cả ngành ngân hàng hiện đang tích cực tìm khách hàng và hạ lãi suất để bơm vốn, cứu DN tức là để tự cứu mình.

Thứ tư, nên sớm dỡ bỏ mọi qui định trần lãi suất ở thị trường 1. Nếu buộc còn phải sử dụng biện pháp hành chính để can thiệp lãi suất thì nên là ngắn hạn và chỉ áp “hành chính” ở lãi suất cho vay. Nhưng theo hướng: NHNN ra thông tư khống chế lãi suất cho vay cao nhất ở thị trường 1 đối với mọi TCTD không được vượt quá 125% so với lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn tương ứng khoản vay 1 năm, 2 và 3 năm trong đợt phát hành gần nhất so với thời điểm phát sinh tín dụng so sánh (sao cho lãi suất tín dụng đầu ra không vượt quá tỷ lệ lạm phát kỳ vọng cộng với chi phí hoạt động cung ứng tín dụng hợp lý của TCTD và lãi suất kỳ hạn ngắn phải thấp hơn lãi suất kỳ hạn dài).

Thứ năm, nhà nước sớm có cơ chế xóa bỏ mọi hình thức sở hữu chéo giữa DN với ngân hàng, triệt để tôn trọng nguyên tắc “TCTD không được góp vốn, mua cổ phần của các DN, TCTD khác là cổ đông, thành viên góp vốn của chính TCTD đó” theo khoản 5 điều 129 Luật TCTD 2010. Nếu thả lỏng vấn đề này thì rất nguy hiểm: đã và sẽ tạo ra các liên minh lợi ích nhóm làm méo mó môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng và vô hình chung gây ra cảnh “kẻ ăn không hết, người lần không ra” trong các cơ hội tiếp cận vốn ngân hàng của các DN có các quan hệ “thân”, “sơ” khác nhau với ngân hàng. Đối với các TCTD yếu, sau mọi phương án M&A tự nguyện không thành, nhà nước có thể cho TCTD đó phá sản theo kịch bản chỉ bảo vệ người gửi và cổ đông bằng chính nguồn thanh lý TCTD đó cùng với Cty Bảo hiểm tiền gửi VN buộc phải chịu trách nhiệm vào cuộc dưới sự giám sát an toàn của NHNN.

Thứ sáu, Chính phủ cần sớm có qui định thống nhất một đầu mối quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước tại NHNN. Trên cơ sở đó: cho tự do hoá việc xuất - nhập khẩu vàng với mọi TCTD được phép; Quy chuẩn vàng thỏi trong dự trữ ngoại hối nhà nước nên theo quốc tế (logo độc quyền SBV, đơn vị đo từ 01 đến 10kg/thỏi, vàng chất lượng cao, không nhỏ hơn 95% vàng nguyên chất) do duy nhất NHNN chỉ định đơn vị chế tác vàng thỏi mang logo SBV và xoá mọi loại vàng miếng. Nên cho mở sàn vàng cho mọi thành phần đủ điều kiện tham gia kinh doanh do NHNN tổ chức, tham gia và điều tiết thông qua tín phiếu NHNN mệnh giá vàng để vừa tạo kênh triệt để chống đô la hoá, vàng hoá phương tiện thanh toán, vừa tạo kênh chuyển dịch các nguồn vốn ngoại thành nguồn vốn nội đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và cũng là cơ chế phân biệt rạch ròi giữa quan hệ mua đứt, bán đoạn với quan hệ tín dụng ngoại tệ trên thị trường.

- Nhưng điều ông nói mới chỉ ở góc độ quản lý. Để nâng cao năng lực hấp thụ vốn, chắc hẳn “tự thân” các DN cũng sẽ phải có đối sách ?

Đúng vậy, với tình trạng hiện nay, các DN hơn lúc nào hết cần mở rộng thị trường tiêu thụ theo nguyên tắc “buôn có bạn, bán có phường” thông qua các Hiệp Hội ngành nghề để tổ chức hình thành các kênh phân phối hợp lý, có tổ chức từ sản xuất tới tiêu dùng ở tất cả các tỉnh, thành phố theo đặc thù truyền thống địa phương, ở trong nước và tổ chức các dòng sản phẩm ra các thị trường nước ngoài.

Theo đó, Chính phủ cần chỉ đạo Bộ Công Thương và các cơ quan thông tin đại chúng, các chính quyền địa phương tạo điều kiện quảng bá, giới thiệu và/hoặc cấp phép thành lập các chợ đầu mối để thu hút và chuyển tiếp sản phẩm phù hợp từng loại sản phẩm. Tất cả đều phải cụ thể hóa, không dùng khẩu hiệu yêu hàng Việt chung chung, mà là DN phải tăng tính ưu việt của hàng Việt so với hàng ngoại cả về tiện ích, giá cả và chất lượng.

Còn đối với Ngân hàng - một loại hình DN đặc biệt, cần từng bước bắt buộc mọi TCTD cổ phần phải lên sàn chứng khoán có tổ chức để tạo thêm kênh kiểm soát tính minh bạch. Được vậy, chắc chắn sẽ tạo ra bước chuyển tích cực theo hướng ngân hàng và DN ngày càng hiểu biết lẫn nhau, nền kinh tế sẽ ngày càng vận động dựa vào qui luật thị trường và được giải phóng khỏi những ràng buộc duy ý chí của chính sách cũng như sự thao túng/độc quyền của các quan hệ thiếu minh bạch giữa ngân hàng và DN đã có nhiều cản trở năng lực tiếp cận nhau như hiện nay

- Xin cảm ơn ông !

Theo Hồng Thắm - DĐDN

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo