Thứ năm, 17/6/2021 | 12:39 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Lạm phát - mối lo mới của thị trường thế giới Làn sóng tăng vốn 2021 Đầu tư hạ tầng vùng ĐBSCL Cuộc khủng hoảng nguồn cung chip toàn cầu ĐHĐCĐ 2021
Thứ ba, 1/1/2019, 06:49 (GMT+7)

Ông Nguyễn Đức Hùng Linh: 'Thận trọng nhưng không bi quan với TTCK 2019'

Nguyễn Bình Minh Thứ ba, 1/1/2019, 06:49 (GMT+7)

Năm 2018, nhiều nhà đầu tư thua lỗ khi Vn-Index giảm mạnh từ 1.200 điểm xuống 900 điểm cuối năm. Kênh đầu tư chứng khoán trong năm qua đã không mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư bằng tiền gửi ngân hàng. Mặc dù nền kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP cao nhất 10 năm, với mức tăng 7% song các diễn biến trên thị trường chứng khoán không phản ánh đúng như vậy do tác động từ thị trường chứng khoán thế giới, chiến tranh thương mại và dòng vốn đảo chiều trên toàn cầu.

NDH.vn đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Hùng Linh, Giám đốc phân tích và tư vấn đầu tư khách hàng cá nhân CTCP Chứng khoán SSI (SSI), về thị trường năm 2018 và xu hướng trong năm 2019.

- Ông đánh giá ra sao về diễn biến thị trường năm 2018 cũng như nhận định về xu hướng của năm 2019? TTCK Việt Nam năm 2019 sẽ chịu ảnh hưởng từ những vấn đề gì?

- Việc thị trường giảm điểm từ tháng 4 có thể gây bất ngờ với nhiều người bởi trước đó kỳ vọng của thị trường, nhất là của các nhà đầu tư trong nước là rất lớn.

Tuy vậy, với chúng tôi, điều này đã được dự liệu từ trước. Các rủi ro từ thị trường thế giới thực tế đã xảy ra từ tháng 2 với việc S&P 500 giảm điểm mạnh và nhà đầu tư nước ngoài chuyển sang bán ròng. Do đó, nếu đánh giá được đúng các rủi ro từ bên ngoài thì có thể thấy việc giảm điểm của TTCK Việt Nam là khó tránh khỏi.

Ông Nguyễn Đức Hùng Linh.

Theo tôi, năm 2019 có hai rủi ro lớn từ bên ngoài là tăng trưởng toàn cầu chậm lại và chiến tranh thương mại.

Hai nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc đều được dự báo giảm tăng trưởng trong năm 2019 trong khi đây là hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Chiến tranh thương mại sẽ diễn biến rất khó lường và ảnh hưởng của nó đến kinh tế Trung Quốc, đồng CNY cũng sẽ có ảnh hưởng đến nhu cầu nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam và sự ổn định tỷ giá. Ở trong nước, chính sách tiền tệ theo hướng chặt chẽ mà hệ quả sẽ là lãi suất đứng ở mức cao và tín dụng sẽ hạn chế vào các kênh mạo hiểm, trong đó có đầu tư chứng khoán.

Tôi có cái nhìn thận trọng nhưng không bi quan với TTCK trong năm 2019. Mặc dù chịu ảnh hưởng của nhiều rủi ro trong và ngoài nước, TTCK vẫn có nhiều cơ hội từ các ngành và doanh nghiệp được hưởng lợi trong xu hướng dịch chuyển sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam do chiến tranh thương mại và tăng trưởng nhờ sức cầu nội địa.

Việc đầu tư trên TTCK năm 2019 sẽ cần chọn lọc rất kỹ lưỡng cả về doanh nghiệp và thời điểm đầu tư. Đây là cơ hội để cho thị trường thanh lọc và làm nổi bật lên các cổ phiếu tốt, từ đó định hướng được dòng tiền của nhà đầu tư, giúp TTCK trở thành một kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế.

- Ông có phân tích như thế nào về diễn biến của khối ngoại trong năm 2018 và có thể đưa ra những nhận định về đường đi của dòng vốn này trong năm 2019? Liệu thị trường chứng khoán Việt Nam còn hấp dẫn trong mắt nhà đầu tư nước ngoài?

Nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) mua ròng 40.000 tỷ trong năm 2018, trong đó mua ròng thỏa thuận là 58.000 tỷ và bán ròng khớp lệnh là 18.000 tỷ. Do các giao dịch khớp lệnh có ảnh hưởng đến xu hướng giá cổ phiếu cũng như của thị trường chung nên việc bán ròng khớp lệnh là một nguyên nhân khiến thị trường giảm điểm.

Xu hướng bán ròng của NĐTNN xuất hiện từ tháng 2 và gia tăng từ tháng 4 cùng thời điểm đồng USD lên giá mạnh trên thị trường thế giới, kéo theo làn sóng rút vốn ở các thị trường mới nổi. Việc Fed nâng lãi suất đã khiến dòng vốn trên toàn cầu xáo trộn và điều này còn có thể tiếp diễn sang năm 2019.

Thông điệp gần nhất của Fed cho thấy họ sẽ vẫn cân nhắc nâng lãi suất và thu hẹp bảng cân đối kế toán, một nhân tố làm cho chi phí và khả năng tiếp cận vốn giảm. Trong bối cảnh dòng tiền đầu tư trên toàn cầu co hẹp, việc cạnh tranh giữa các quốc gia sẽ gay gắt hơn.

Việt Nam có một số lợi thế nhất định để NĐTNN chú ý. Bên cạnh câu chuyện thường kể về một quốc gia đông dân và đang phát triển, Việt Nam còn có 2 câu chuyện rất riêng, đó là khả năng nâng hạng và thoái vốn nhà nước. Nếu tận dụng tốt những lợi thế này, dòng tiền nước ngoài vào Việt Nam vẫn sẽ khả quan. Tuy vậy cần lưu ý rằng dòng tiền nóng và dòng tiền M&A có thể sẽ đi theo hai hướng khác nhau như năm 2018.

- Theo ông, nhóm ngành nào cần được chú ý trong năm 2019?

Tín dụng chậm và lãi suất tăng sẽ không phải là tin vui cho các ngành đầu tư tài chính, bất động sản cũng như các doanh nghiệp vay nợ lớn. Đây lại là nhóm có tỷ trọng lớn trên sàn chứng khoán và vì vậy thị trường năm 2019 nhìn tổng thể sẽ chuyển sang gam màu trầm. Dẫu vậy, vẫn còn nhiều điểm sáng đáng chú ý.

Chính sách tài khóa của Việt Nam sẽ nhất quán theo hướng tập trung nguồn lực cho phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển hạ tầng. Tổng cầu thế giới giảm và dư địa tiền tệ hẹp là lý do để Chính phủ phải tích cực thúc đẩy đầu tư công, tạo hiệu ứng tốt cho những ngành xây dựng, vật liệu xây dựng và hạ tầng.

Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung nhìn ở khía cạnh tích cực sẽ mở ra cơ hội cho thu hút FDI cũng như ngành kinh doanh khu công nghiệp khi mà nhiều doanh nghiệp đang tính tới rời nhà máy khỏi Trung Quốc. Những ngành thâm dụng lao động như dệt may cũng sẽ hưởng lợi không chỉ từ chiến tranh thương mại mà còn từ các FTA mà Việt Nam mới tham gia. Dịch vụ cảng, logisitcs và vận tải biển là những ngành hưởng lợi thứ cấp từ xu hướng này.

Bên cạnh đó, Nghị quyết 10 về phát triển kinh tế tư nhân và chính sách bảo hộ đang tạo điều kiện tốt cho nhiều ngành và doanh nghiệp, trong đó có những doanh nghiệp niêm yết hàng đầu ngành thép, sản xuất ô tô, dược … Các doanh nghiệp này nếu thành công sẽ thay thế được hàng nhập khẩu, thậm chí tăng giá trị xuất khẩu, giúp cân bằng lại vai trò áp đảo của khối FDI.

Tác động của chứng khoán phái sinh

- Sau hơn một năm ra mắt, ông đánh giá thị trường chứng khoán phái sinh đã tác động như thế nào đến thị trường cơ sở?

Thị trường phái sinh hiện tại do chỉ có một sản phẩm là hợp đồng tương lai VN30 nên mức độ tác động đến thị trường cơ sở chưa lớn. Tuy nhiên có thể thấy phái sinh đã trở thành một kênh đầu tư hiệu quả theo nghĩa giữ chân nhà đầu tư trong bối cảnh thị trường cơ sở giảm điểm trong hơn nửa thời gian của năm 2018. Ở góc độ này, phái sinh đã bổ trợ tốt cho thị trường cơ sở.

- Theo ông năm 2019, thị trường chứng khoán phái sinh có hoạt động đúng như bản chất đó là phòng ngừa rủi ro?

- Nhìn ở nghĩa rộng thì việc phòng ngừa rủi ro có thể hiểu là nhà đầu tư có một kênh đầu tư khác có thể sinh lời nhằm bù đắp một phần cho giá cổ phiếu giảm.

Ở nghĩa này thì trong năm 2018 khi thị trường cơ sở giảm, thị trường phái sinh hoàn toàn có thể phát huy vai trò phòng ngừa rủi ro nếu nhà đầu tư có chiến thuật đầu tư đúng. Trên thực tế, sự sôi động của phái sinh khi thị trường cơ sơ giảm là một biểu hiện tích cực bởi khi thanh khoản gia tăng thì việc thực hiện các giao dịch phòng ngừa rủi ro cũng trở nên thuận tiện hơn.

- Giữa thị trường chứng khoán phái sinh và cơ sở thì ông thấy loại hình nào hấp dẫn hơn trong năm 2019?

- Đầu tư cổ phiếu là đầu tư vào doanh nghiệp với kỳ vọng doanh nghiệp sẽ ăn nên làm gia trong tương lai còn đầu tư phái sinh chỉ đơn giản là đánh cược với xu hướng của thị trường. Lựa chọn kênh đầu tư nào là do nhà đầu tư quyết định dựa vào sở thích và khả năng của mình. Ở bất kỳ loại đầu tư nào, phương pháp đầu tư đúng sẽ luôn mang lại kết quả tích cực.

- Xin cảm ơn ông.

Bình An

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo