Chủ nhật, 25/8/2019 | 09:15 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

Kết quả kinh doanh quý II/2019 Bức tranh bất động sản cao cấp Trào lưu homestay Điện mặt trời trước 30/6 Chứng quyền có bảo đảm
Thứ năm, 4/4/2019, 09:27 (GMT+7)

Công bố thông tin của doanh nghiệp trên TTCK: Quyền lớn nhất là của nhà đầu tư

Nguyễn Bình Minh Thứ năm, 4/4/2019, 09:27 (GMT+7)

NDH Talk 09 với chủ đề Công bố thông tin của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán đã diễn ra sáng 4/4. Sau hơn 2h trao đổi với sự điều phối của Chủ tịch HĐQT Công ty chứng khoán SSI - Nguyễn Duy Hưng và sự tham gia của ông Trần Văn Dũng - Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, bà Nguyễn Thị Nguyệt Anh - Chuyên gia về Quản trị công ty của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), ông Phan Lê Thành Long, Giám đốc Viện quản trị công chứng Úc (CMA Australia) và ông Trần Đình Cường - Tổng giám đốc Ernst & Young Việt Nam, các diễn giả đã chia sẻ những góc nhìn cũng như giải pháp cải thiện chất lượng công bố thông tin của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán.

- Ông Nguyễn Duy Hưng: Nếu xem lại các quy định pháp luật của Việt Nam rất chặt chẽ, tuy nhiên nếu nhìn về việc công bố thông tin của các doanh nghiệp (DN) thực tế xảy ra trên thị trường dẫn đến việc nhà đầu tư không hiểu rõ DN, dẫn đến quyết định không chính xác.

NDH Talk chúng tôi mời đến đây những người gắn bó với thị trường. Tôi xin dành câu hỏi cho ông Trần Văn Dũng, ông có thể nói ngắn gọn về tình trạng công bố thông tin (CBTT) của các DN tại Việt Nam?

- Ông Trần Văn Dũng:CBTT của DN và đặc biệt là DN đại chúng hiện nay, chúng ta nhìn ngắn gọn 2 khía cạnh.

Thứ nhất, về khía cạnh pháp lý, những quy định của hệ thống pháp luật liên quan đến CBTT tại Việt Nam là theo chuẩn mực quốc tế thậm chí hơn cả chuẩn mực quốc tế.

Theo quốc tế, DN chỉ CBTT hàng quý, hàng năm kiểm toán. Còn Việt Nam, DN niêm yết CBTT hàng quý, 6 tháng soát xét, hàng năm có kiểm toán. Và hiện tại, hệ thống quản lý DN ở quốc tế chủ yếu được thực hiện theo bộ thông lệ. Ở Việt Nam thì đưa vào quy định của pháp luật, cụ thể Nghị định 71, tới đây đưa hẳn vào trong luật.

Khuôn khổ chặt chẽ nhưng thực hành lại có nhiều vấn đề. Ở hướng tích cực, 5 năm qua số DN vi phạm CBTT giảm nhiều.

Các diễn giả tham gia NDH Talk 09 về công bố thông tin của DN trên TTCK. Ảnh: Liên Hương.

Theo đánh giá độc lập bên ngoài (ví dụ như Vietstock), số DN đáp ứng theo tiêu chuẩn ở năm 2018 tăng gấp đôi so với 2017. Ở mặt chưa tốt, Số DN vi phạm CBTT vẫn còn nhiều.

Năm 2018, UBCK ban hành gần 400 quyết định xử phạt, hơn 50% là vi phạm CBTT. Bên cạnh đó, chất lượng quản trị công ty cũng có vấn đề. So sánh giữa ASEAN hay ASEAN 6 thì quản trị công ty của chúng ta ở mức thấp nhất.

- Ông Nguyễn Duy Hưng: Cảm ơn ông Trần Văn Dũng. Thực trạng các quy định pháp luật chặt chẽ, nhưng thực thi có vấn đề, các quyết định xử phạt năm 2018 của UBCK là con số tăng nhiều. Có câu hỏi đặt ra là phải chăng ngày xưa tốt chưa bị phạt hay là bây giờ không tốt mới bị phạt? Chúng ta phải nhìn nhận là việc thanh tra kiểm tra hiện nay để các DN thực thi pháp luật tốt hơn rất là nhiều, con số xử phạt là "con số đáng mơ ước" của bất kỳ DN nào tuy nhiên thực trạng còn nhiều vấn đề.

Xin hỏi ông Phan Lê Thành Long là nhiều đơn vị công bố thông tin mà người trong nghề biết là sẽ có chuyện xảy ra nhưng quy trình pháp luật rà soát lại thì không bắt bẻ người ta được. Ở một người trên phương diện nhà đầu tư, nhà tư vấn, người quan sát thị trường, ông có thể nêu ví dụ về thực trạng của vấn đề này?

- Ông Phan Lê Thành Long: Với tư cách là người quan sát thị trường, tôi nhận thấy về việc CBTT có thể chia ra thành CBTT về tài chính và thông tin phi tài chính.

Về CBTT tài chính, hiện nay trên thị trường có khá nhiều bất cập, từ việc công bố, chất lượng thông tin đến chính bản thân hệ thống về chuẩn mực kế toán. Xét về chuẩn mực kế toán, Việt Nam là 1 trong 12 quốc gia đang đi đường riêng, ko theo chuẩn mực quốc tế. Vì vậy, DN niêm yết gặp hạn chế trong việc công bố thông tin tài chính. Chất lượng báo tài chính theo đó có thể bị ảnh hưởng.

Ông Phan Lê Thành Long.

Theo một con số thống kê không chính thức, thị trường chứng khoán Mỹ hàng năm có trung bình 300 trường hợp bị Uỷ ban Chứng khoán (UBCK) yêu cầu phải trình bày lại báo cáo tài chính. Ở Việt Nam chưa có trường hợp nào như vậy vì rất khó để cơ quan quản lý giám sát chất lượng công bố. Nguyên nhân là Việt Nam có nhiều “room”để DN dựa vào đó để CBTT theo một định hướng nào đó.

Còn với CBTT phi tài chính là báo cáo thường niên hoặc báo cáo bất thường. Báo cáo thường niên gồm thông tin tài chính và phi tài chính nhưng hướng tới chuyện làm cho DN đẹp hơn. Vì vậy, tính minh bạch, độc lập chưa cao.

Việc CBTT tương lai, như cáo bạch và thông tin dự báo để thị trường dựa vào đánh giá đều chưa được bên nào kiểm chứng, mà chỉ dựa trên thái độ tình nguyện của DN. Hiện Việt Nam cũng chưa có quy định khuyến khích DN minh bạch trong vấn đề này.

Khi DN niêm yết CBTT cáo bạch hay thông tin dự báo tương lai, nên có kiểm toán kiểm chứng các thông tin đầu vào. Tuy nhiên, điều đó sẽ khiến chi phí phát hành, niêm yết tăng lên.

Theo tôi, Việt Nam có đủ hành lang để làm việc này vì chúng ta hiện đã có chuẩn mực kiểm toán, nhưng chưa thấy có bất kỳ trường hợp nào có kiểm toán hay bên độc lập thứ 3 làm việc này.

Cáo bạch hay thông tin tương lai là thông tin để thị trường dựa vào đó đánh giá triển vọng mua trong tương lai chứ không ai mua vì quá khứ.

- Ông Nguyễn Duy Hưng: Cảm ơn ông Long. Chúng ta phải nhìn nhận thế này, các quy định pháp luật đủ hết, nhưng thực tiễn rất nhiều vấn đề phát sinh.

Còn ông Trần Đình Cường, ông là một người của công ty kiểm toán số 1 trong Big4, Ernst & Young (E&Y) là đơn vị kiểm toán nhiều nhất trên thị trường. Rõ ràng trong các khách hàng của E&Y, nhiều DN phát triển rất tốt tuy nhiên không phải tất cả. Thậm chí có những DN kiểm toán nhiều năm không có vấn đề nhưng cuối cùng vẫn có vấn đề, khi quay ngược lại vấn đề phát sinh từ nhiều năm trước.

Là người tham gia kiểm toán, ông nghĩ gì về tất cả những câu chuyện này? Và ông nghĩ gì khó làm khi dẫn đến thực trạng như vậy hiện nay ở Việt Nam?

- Ông Trần Đình Cường: Nếu nhận xét về chất lượng kiểm toán chung, chúng ta sẽ đồng thuận với nhau rằng chất lượng kiểm toán tăng lên rất nhiều trong thời gian qua. Chất lượng CBTT tốt hơn so với trước đây. Nhìn tổng thể chúng ta đang đi lên không phải đi xuống, tất nhiên chúng ta vẫn đang ở vị thế thấp.

Dưới góc độ của công ty kiểm toán tôi nhận thấy một số điều sau:

Thứ nhất, tính tuân thủ tự giác của các DN Việt Nam chưa cao so với mặt bằng chung. Một số DN lập các báo cáo vì quy định như thế, thay vì nghĩ thấu đáo là nhà đầu tư cần có những gì, trách nhiệm là người được ủy thác tài sản của các nhà đầu tư phải báo cáo như thế nào.

Thứ hai, các quy định của chúng ta rất chặt chẽ nhưng dù chặt chẽ đến đâu vẫn có lỗ hổng, không có quy định nào ngay lập tức hạn chế được tất cả hành vi sai trái. Bên cạnh đó, quy định của Việt Nam không đồng nhất, Ủy ban Chứng khoán UBCK có thể quy định thế này nhưng Bộ Tư pháp có thể hiểu theo cách khác.

Báo cáo mà vận theo quy định pháp luật khác nhau lại khác nhau. Chủ DN không làm công tâm và trách nhiệm dẫn đến việc cung cấp thông tin không kịp thời. Chưa kể có những trường hợp vì mục đích không trong sáng, các chủ DN cố tình gian lận thì rất khó cho các đơn vị kiểm toán phát hiện vì kiểm toán chỉ dựa trên chứng từ tài liệu. Nếu chúng được làm giả tinh vi và đúng chỗ thì chúng tôi cũng không thể đưa ra là tin cậy hay không đáng tin cậy.

Về cơ bản điều quan trọng là tính tự giác và tuân thủ pháp luật. Làm như thế này chúng ta còn khó nếu chuyển sang thông lệ quốc tế còn khó khó hơn rất nhiều.

- Ông Nguyễn Duy Hưng: Cảm ơn ông Cường. Chúng ta đang nói câu chuyện là "mọi thứ như thế đấy, chúng ta đang cố gắng hết rồi" và giải thích là "chúng tôi làm hết sức nhưng chỉ có thế thôi", rõ ràng trước khi bước vào cuộc nói chuyện này thì mọi người đều nói là lỗi nằm ở chỗ này, ở chỗ khác. Nhưng khi mọi người nói đều có cả "gậy" và "củ cà rốt" thì đều nhận định rất là khó.

Riêng bà Nguyệt Anh làm việc tại IFC- một tổ chức mà không có cả "gậy" và "củ cà rốt" nhưng lại tham gia rất nhiều vào nhiều dự án quản trị DN, minh bạch hóa thị trường, minh bạch hóa công ty.

Bà có thể có cái nhìn tương đối “không gậy không cà rốt”, bà có thể cho những nhận xét từ khi bà về IFC và những chuyển biến trên thị trường, cái gì đang tồn tại, cái gì IFC đang nhằm tới, để giúp thị trường theo mong muốn của IFC?

Ông Trần Đình Cường.

- Bà Nguyễn Thị Nguyệt Anh:Xin cảm ơn ông Nguyễn Duy Hưng đã cho tôi cơ hội để ngồi đây trao đổi, tham kiến cùng các anh chị, quý phóng viên.

IFC là tổ chức tài chính phát triển. Trong những chuẩn mực IFC mang đến thị trường, ngoài đầu tư, IFC còn có dịch vụ tư vấn, hỗ trợ về kỹ thuật trực tiếp cho các công ty, cơ quan quản lý, các bên khác tham gia thị trường.

Tôi tham gia IFC từ cách đây hơn 9 năm và cũng làm về quản trị công ty. 9 năm với tôi khá dài nhưng tôi nghĩ tôi phải tiếp tục đi vì còn nhiều công việc đang chờ tôi. Tôi đã làm việc với nhiều bên trên thị trường và xin có một số chia sẻ như sau.

Chủ đề của chúng ta là CBTT. Có thể nói chúng ta đã có những bước tiến khá tốt. Nhìn lại thời gian qua, cơ quan quản lý và các thành viên trên thị trường tự hào. Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện được coi là một trong những thị trường phát triển nhất khu vực. Số lượng công ty niêm yết là gần 700, hàng nghìn công ty đại chúng, chưa kể các công ty gia đình.

Quy mô thị trường lớn, khối lượng công việc chúng ta cần thực hiện khá lớn so với các nước trong khu vực. Chúng tôi đã làm việc tại Indonesia, Philippines, Lào, Campuchia. Những nước đó chỉ có vài công ty niêm yết. Với Việt Nam, khối lượng công việc nhiều hơn.

Chất lượng công bố thông tin đã đi lên rõ rệt, ví dụ như giải báo cáo thường niên của HoSE phối hợp với VIR và Dragon Capital, hiện có cả HSX tham gia. Sau 10 năm, chất lượng báo cáo đã có thay đổi, thẻ điểm quản trị ASEAN dù thấp nhưng có thay đổi.

Cách đây 5 năm, chúng ta chỉ có 30 công ty có báo cáo bằng tiếng Anh, được chọn tham gia đánh giá. Đến 2018 đã có 70 công ty, điểm số cũng tăng lên.
Hệ thống luật pháp Việt Nam đã có thông tư, nghị định, Luật Doanh nghiệp, quy định ngành ngân hàng, có thay đổi rõ rệt, đưa các chuẩn mực quốc tế vào định hướng cho công ty Việt Nam.

Tôi có thể nhìn thấy Nghị định 71 mang tính hướng dẫn và chưa có yếu tố thực hiện. Những quy định như luật DN cũng có hướng mở cho các công ty, phần nào giúp DN định hướng, thay đổi.

Bản thân chúng ta có thay đổi nhưng trong khu vực vẫn xếp thấp nhất. Thẻ điểm quản trị trung bình ASEAN của Việt Nam năm 2018 với 70 công ty niêm yết lớn nhất là 41,3/130 điểm. Điểm số của Thái Lan và Indonesia lần lượt là 87,5 và 62,3.

Chúng ta có thay đổi nhưng quy mô thị trường tăng lên. Tuy nhiên, các nước khác cũng đã có hành động cụ thể để theo đuổi các chuẩn mực cao hơn.
Các cơ quan quản lý đã có nhiều nỗ lực nhưng nhiều công ty trên thị trường vẫn chưa nhận ra họ cần vượt qua yêu cầu tuân thủ pháp lý để huy động vốn, duy trì niềm tin cổ đông. Bản thân tôi thấy các công ty cần chú trọng hơn nữa.

Bà Nguyễn Thị Nguyệt Anh.

- Ông Nguyễn Duy Hưng:Chúng ta phải nhìn nhận rằng, thị trường đã tốt hơn rất nhiều trong 10 năm gần đây, đã tiến một bước dài. Tuy nhiên, chúng ta mục đích nói về phát luật và thực thi pháp luật nhưng chúng ta cũng phải đề cập đến một vấn đề rất khó kiểm soát chính là đạo đức nghề nghiệp.

Ở một DN, có những người sẽ nghĩ theo phương hướng phát triển bền vững thì những điều mọi người đề cập vừa qua là đúng. Tuy nhiên, thực tế, DN với họ là lợi ích, các ông nói hay nói dở gì thì chúng tôi vẫn có thể lách luật và huy động được vốn.

Và tôi làm đúng như ông thì tôi không huy động được vốn, có thể chấp nhận mất uy tín, phát triển không bền vững nhưng kết quả cuối cùng là người ta huy động được vốn. Nều làm đúng bài bản thì người ta nghĩ rằng có khi lại không thành được cái gì.

Phải chăng ở các khu vực cần nhu cầu cao hơn thì nó chưa đủ, hoặc chế tài chưa đủ mạnh, dù mức phạt gần đây rất cao 7-8 tỷ đồng nhưng con số đấy so với việc người ta có thể thu về cả trăm tỷ như Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã nói thì không là gì cả.

Qua một số điều người ta có thể thu về rất nhiều mà đến lúc ấy ông Dũng có phạt thì người ta cũng không sợ. Mặt khác, không phải ông Dũng muốn phạt bao nhiều thì phạt, tất cả đều phải so về quy định pháp luật, không phải ý chí của mình thấy là DN lừa đảo thì có thể xử như thế này thế kia. Tất cả đều phải so với quy định pháp luật.

Như vậy thì nếu DN bảo là tôi có sai, tôi lách luật nhưng tôi làm được đạt mục đích. Thực tế chứng mình, trước khi cấp phép ông Trần Văn Dũng đã đối thoại với luật sư, kiểm toán, HĐQT của DN. Nhưng nêu quy định về pháp luật thì không có quyền hạn. Đứng trên góc độ của mọi người thực trạng này mọi người có thể giải quyết bằng cách nào?

- Ông Phan Lê Thành Long: Với câu hỏi của ông Nguyễn Duy Hưng, tôi từng nhận được câu hỏi, đúng hơn là một "order" tương tự vào năm 2009 từ UBCK.

Thời điểm đó là vào khủng hoảng kinh tế, UBCK hỏi chúng tôi rằng, với tư cách là bên thứ 3 độc lập, chúng tôi cầm BCTC của DN thì chúng tôi cần thấy điều gì. Khi đó, chúng tôi đã xây dựng một phương pháp, mà phương pháp này đến nay vẫn được dùng nhiều. Phương pháp này giúp một bên thứ 3 độc lập nhìn nhận được thông tin tài chính của một DN.

Tuy nhiên, sự giám sát từ thị trường nói chung là quan trong nhất, đặc biệt là nhà đầu tư, mà ở Việt Nam là nhà đầu tư nhỏ lẻ. Tất nhiên, nhà đầu tư cần có một sự giám sát đúng nghĩa.

Khi bị thị trường giám sát, tức là DN bị đánh vào lợi ích. Bị đánh vào lợi ích, DN khi đó mới có ý thức làm đúng luật.

- Ông Trần Đình Cường: Tôi rất đồng tình với ý kiến của ông Long. Mọi việc phải xuất phát từ người lãnh đạo cao nhất và ban lãnh đạo. Uỷ ban Chứng khoán cũng có vai trò trong nỗ lực này. Uỷ ban Chứng khoán cần có thêm những vai trò lớn hơn đối với thị trường và có những phản ứng nhanh, kịp thời hơn.

Uỷ ban càng tăng cường kiểm tra giám sát thì phần nào sẽ giảm được nỗ lực không tốt của các chủ thể tham gia. Trong quá trình này, chúng ta vừa phải học hỏi, bồi dưỡng cam kết nâng cao chất lượng công bố thông tin. Vai trò của tổ chức như IFC và các viện về quản trị rất tích cực.

Đối với các công ty chứng khoán như chúng tôi - đóng vai trò canh gác thị trường - phải liên tục học hỏi rút kinh nghiệm, lựa chọn sàng lọc khách hàng và tuân thủ chặt chẽ mọi quy định của pháp luật.

- Bà Nguyễn Thị Nguyệt Anh: Bây giờ chúng ta nói về chất lượng CBTT. Chất lượng CBTT là bản chất của vấn đề.

Các công ty đưa lên số liệu, báo cáo hấp dẫn, hoặc như ông Hưng chia sẻ là thuê designer làm báo cáo “đẹp” nhưng chất lượng thông tin không phản ánh đúng thực trạng, khiến nhà đầu tư quan ngại.

Tôi chia sẻ nhận định của tôi hầu hết các trường hợp công ty trên thị trường có vấn đề chính là về quản trị công ty. Các ông bà mới nói về chất lượng báo cáo tài chính, chưa nói đến thông tin phi tài chính.

Thông tin phi tài chính cũng rất quan trọng với nhà đầu tư. Ví dụ, báo cáo quản trị công ty là một yêu cầu bắt buộc trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết. Báo cáo này cho chúng ta nhiều thông tin về công ty, như thành viên HĐQT, họ là ai, đã tham gia những công ty nào trên thị trường, trong HĐQT có những ủy ban nào, có bao nhiêu thành viên độc lập, bao nhiêu thành viên phi điều hành, các quan hệ với kiểm toán nội bộ, kiểm toán bên ngoài… Đó là những thông tin phi tài chính cho biết công ty đó đang được điều hành như thế nào.

Những người trong ban điều hành, cổ đông lớn có thể trực tiếp tham gia hoạt động quản lý công ty và họ là người lập báo cáo tài chính. Trên thực tế, những cổ đông nhỏ lẻ cũng bỏ tiền vào công ty nhưng họ không tham gia vào quá trình quản lý. Họ phải làm sao để giám sát?

Theo thông lệ quốc tế, thành viên HĐQT độc lập có vai trò rất lớn. Rất nhiều công ty đại chúng, niêm yết tại thị trường như Indonesia, Malaysia, họ quy định ít nhất 50% thành viên độc lập để giám sát về tài chính, hoạt động công ty. Nếu không đáp ứng, công ty phải công bố lý do tại sao và cả thị trường đều biết. Tính tự giác sẽ được thay đổi. Quay lại Việt Nam, chúng ta hiện có bao nhiêu công ty có thành viên HĐQT độc lập đáp ứng Nghị định 71?

Vinamilk là một ví dụ. Vinamilk từng chỉ có 1 thành viên HĐQT độc lập, đó là chị Băng Tâm, lúc đó đã là chủ tịch. Tại HĐCĐ tháng 4/2017, DN quyết định thay đổi mô hình, xóa bỏ ban kiểm soát, thành lập ủy ban kiểm toán HĐQT.

Theo thông lệ quốc tế, ủy ban kiểm toán cần có đa số thành viên là độc lập, chủ tịch là thành viên độc lập. Theo luật Doanh nghiệp, ít nhất 20% là thành viên độc lập. Vinamilk lúc đó bổ nhiệm thêm 2 thành viên độc lập để đảm bảo yêu cầu 1/3.

Trên thị trường Việt Nam, số lượng công ty làm được việc đó không nhiều. Những công ty công bố thông tin bằng tiếng Anh chỉ chiếm 10%. Bắt kịp thông lệ quốc tế là quá trình rất dài.

Với các cổ đông tham gia thị trường, họ cần hiểu rõ các quyền lợi của họ được bảo vệ như thế nào. Họ là cổ đông thiểu số nên tiếng nói cũng có phần hạn chế. Tại Việt Nam, nhà đầu tư nhiều khi đi theo xu hướng, không nhận thức được họ có được bảo vệ hay không.

Vai trò của nhà quản lý trong vấn đề này như thế nào? Nếu công ty hoạt động tốt, chúng ta cũng không cần cơ chế quá phức tạp. Nhiều “cây gậy” quá không hiệu quả, không cân bằng được. Nhưng với các công ty có vấn đề thì điều này là hoàn toàn cần thiết. Trên thị trường Việt Nam, số công ty có vấn đề cũng khá nhiều.

Tôi chia sẻ quan điểm thêm rằng quản trị công ty là cốt lõi của vấn đề, giúp các công ty có chất lượng CBTT tốt hơn.

- Ông Nguyễn Duy Hưng: Cám ơn bà Nguyệt Anh, một ý kiến rất hay về mô hình quản trị nhưng mô hình quản trị ấy thực sự có ý nghĩa hay không lại là một câu chuyện khác.


Ông Nguyễn Duy Hưng.

Bà Nguyệt Anh chỉ nói về Vinamilk nhưng tôi nói thật công ty tuân thủ nhất về quản trị DN là SSI chứ không phải Vinamilk. Vì SSI có đầy đủ tất cả thành viên hội đồng quản trị độc lập đều là những người có uy tín cao để nói tiếng nói độc lập của mình trước khi có tất cả những yêu cầu đó.

Tuy nhiên tôi nói thật nếu như bà Nguyệt Anh nói mô hình đã tốt thì tất cả mô hình quản trị nó đều phù hợp, đều tốt. Nếu bộ máy không tốt thì bà yêu cầu mô hình gì vào nó cũng thế thôi.

Bản thân bây giờ với hơn 1.000 công ty đại chúng, công ty niêm yết chỉ cần tìm đủ số người có khả năng độc lập, có khả năng đóng góp cho công ty và có tiếng nói độc lập để làm thành viên hội đồng quản trị cả nước này không có. Những người có tiếng nói độc lập trong công ty độc lập, thứ nhất, họ phải là những người có uy tín và rất sợ mất uy tín của mình trước công chúng, trước mọi người.

Thứ hai, họ phải là những người có kiến thức tốt, chuyên nghiệp trong lĩnh vực quản trị. Và những cái người như thế họ chọn tham gia đầu rất là khó. Nếu chỗ họ chọn được rồi thì bản thân cũng không cần họ vì nó minh bạch rồi.

Mô hình giống như mọi người đưa lên tốt đấy nhưng nó không thực tiễn.
Cuộc thi báo cáo thường niên có tốt cho thị trường không? Tốt, rất tốt. Làm sao trước đây 10 năm các DN làm vài tờ báo cáo cho đầy đủ, đến nay, báo cáo thường niên rất đẹp, nhiều quyển còn được đầu tư đắt tiền hơn chuẩn mực quốc tế. Thế nhưng hỏi rằng thực sự có ý nghĩa hay không thì không chắc. Nó có ý nghĩa về số lượng chung, nâng cao mặt bằng số lượng của DN, chung của thị trường.

Tuy nhiên hỏi rằng các DN có giải thưởng báo cáo thường niên tốt nhất có phải là DN minh bạch nhất không? Chưa chắc. Vì rất nhiều DN đoạt giải nhưng sau đó vài năm sau lại thấy có vấn đề. Khi có vấn đề thì bộc lộ, quay lại rất cả.

Thế nào là báo cáo thường niên tốt nhất? Thứ nhất là báo cáo phản ánh trung thực nhất hiện trạng của công ty đó tại thời điểm ra báo cáo. Đó mới là báo cáo thường niên tốt nhất chứ không phải báo cáo đạt tiêu chuẩn về đẹp, đạt tiêu chuẩn về báo cáo kiểm toán thế này thế kia.

Mọi người kiểm tra lại các báo cáo được giải trong kiểm toán các yếu tố loại trừ rất là nhiều. Nếu loại trừ rất là nhiều thì làm sao đoạt giải được? Đấy chỉ là yếu tố tài chính chứ phi tài chính lại còn là câu chuyện khác nữa.

Thế thì chúng ta đang muốn mang đến một thứ nâng tầm nâng cấp thì mọi thứ nó phải triển khai nhưng đó có phải là giải pháp hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào người sử dụng các công cụ ấy. Và đúng như ông Phan Lê Thành Long, ông Trần Đình Cường nói cái giá phải trả hay được là khi đã đạt người ta sẽ dễ dàng hơn trên thị trường chứng khoán. Thế nhưng điều đó lại hoàn toàn hậu xét.

Từ nay đến lúc chạy được, đến lúc người ta tuân thủ được, họ phải sống chung với rất nhiều những cái không lành mạnh. Và rõ ràng đứng ở vai trò Chủ tịch UBCK, là người đau đáu những cái này, không phải từng giờ và nghe tất cả những người ngồi đây đều mong muốn xây dựng. Nhưng tôi nghe những ý kiến mới chỉ là kêu gọi đạo đức.

Mọi người ở đây phải đóng vai phản ứng lại để đưa ra áp lực với người quản lý, nhưng mọi người lại thông cảm, kêu gọi đạo đức của các yếu tố tham gia thị trường, điều này rất là khó. Thế thì với cương vị Chủ tịch UBCK, ông Trần Văn Dũng có sáng kiến, ý nghĩ gì? Tất nhiên tất cả phải có bước đi, lộ trình, thời gian. Các nhà báo, mọi người ở đây cũng rất muôn nghe ý kiến của Chủ tịch?

- Ông Trần Văn Dũng: Vấn đề ông Hưng đặt ra rất tổng quát và quá lớn. Câu hỏi làm thế nào để cải thiện chất lượng CBTT hay có thể nói là sự minh bạch của thị trường thì có lẽ giải pháp sẽ là một giải pháp hình quả mít.

Có ai đó từng nói là muốn đi nhanh phải đi một mình còn muốn đi xa phải đi cùng nhau. Theo tôi giải pháp ở đây là chúng ta phải đi cùng nhau. Hiện tại cơ quan quản lý đang xây dựng luật, nhưng bị DN kêu nhiều, bên thì bảo là quy định chặt như thế này thì sao chúng tôi theo được, nhưng lại có người kêu là làm thế này thì làm sao minh bạch được.

Vừa rồi ông Long nói câu chuyện này được đặt ra từ 10 năm, 10 năm trước TTCK Việt Nam có nhiều sự kiện trong đó TTCK đi xuống. 10 năm trước cũng là thời điểm thị trường UPCoM ra đời, và là người tham gia tư vấn tôi cho rằng nếu k có UPCoM, thì NĐT không được tiếp cận với BCTC. Mặc dù BCTC đó có thể chất lượng chưa tốt nhưng có còn hơn không.

Sau đó chúng ta đi thêm được một bước nữa, là DN nằm trên UPCoM vẫn phải CBTT như DN niêm yết. Tôi quan niệm chúng ta sẽ phải đi từ từ, nhưng xác định là phải đi từ nhận thức. Phải để DN nhận thức được minh bạch và quản trị tốt hơn thì chống chịu với khủng hoảng tốt hơn.

Một việc nữa đó là nhiều DN cho rằng nhiều thông tin quan trọng dấu đi cho một đợt phát hành. Tôi cho rằng họ sẽ đạt được mục đích trong lần đầu nhưng các lần sau sẽ không thể qua mặt được nhà đầu tư. Một DN che dấu thông tin nhưng bị báo chí dồn dập tấn công cũng sẽ bị mất đi uy tín. Họ sẽ phải rút kinh nghiệm và đó cũng là tấm gương cho các DN khác.

Trong các giải pháp đó, cơ quan quản lý có trách nhiệm lớn là phải hoàn thiện khuôn khổ pháp lý chặt chẽ và tổng thể hơn. Vai trò kiểm tra thanh tra, xử lý vi phạm. Tới đây các hình thức xử phạt sẽ tăng lên nhiều không chỉ tập thể mà cả cá nhân. Việc xử lý hình sự cũng sẽ mạnh hơn.

- Ông Nguyễn Duy Hưng: Cảm ơn Chủ tịch Trần Văn Dũng. Chúng ta có hội thảo về CBTT và ở khía cạnh nào đó chúng ta đang kỳ vọng sẽ được nâng hạng thị trường.

Khi người ta nhìn vào thị trường không phải soi toàn bộ DN mà trước hết sẽ xem trong nhóm VN30. VN30, VN50 là nhóm người ta để ý rất nhiều và toàn bộ các tiêu chuẩn đều có thể điều chỉnh được từ UBCKNN và Sở. Thế thì nên chăng đã đến lúc Chủ tịch chỉ đạo hay nói với Sở phải đưa lại các yếu tố của nhóm này ví dụ như kiểm toán chặt chẽ hơn, CBTT của VN30 nâng cao hơn, minh bạch hơn, theo điều kiện của kiểm toán, tiêu chuẩn hơn để tạo ra một hình mẫu cho thị trường.

Chủ tịch Trần Văn Dũng có một điều ấn tượng với tôi dù rất nhỏ thôi, nhưng đã tạo được lực đẩy rất lớn cho thị trường, đó là kiến nghị để các DN niêm yết được miễn thuế ở thời kỳ đầu. Đó là bước nhảy lớn nhất của quản trị DN và sự phát triển của thị trường chứng khoán.

Đâu đấy mọi người đang xoay quanh VN30, và nên chăng chúng ta phải tập trung cái này và có thể sửa được mà không cần phải sửa luật. Chúng ta đưa ra những quy định chặt chẽ hơn, nâng cao hơn. Tất cả DN sai công bố thông tin thì đưa ra khỏi nhóm đương nhiên với tội nặng, hoặc là phải công bố bằng tiếng Anh, theo chuẩn ASEAN. Khi chúng ta bồi dưỡng nhóm đầu thì sẽ có DN khác đi theo, giống như chúng ta trước đây kêu gọi niêm yết.

Bởi vì vào VN30 sẽ gắn với lợi ích, nó gắn với lợi ích được nhà đầu tư nước ngoài xem xét, được nhiều nhà đầu tư quan tâm.

Việc thứ 2 tôi muốn nói có thể sẽ là phải sửa luật, là đưa ra các chế tài xử phạt phải nặng hơn, như cấm huy động lần tiếp theo, cầm hành nghề, không chỉ đơn thuần dừng lại ở tiền. Cuối cùng, chúng ta phải có "cây gậy" vì "cà rốt" người ta có thể thay thế bởi những thứ khác tốt hơn, nên chắc chắn phải có "cây gậy". Đó là thứ mà nhà đầu tư gửi gắm khi tổ chức hội thảo này. Xin mời các nhà báo, phóng viên tham gia sự kiện đặt thêm câu hỏi.

- Nhà báo Lan Hương (Thời báo Kinh tế Việt Nam): Các ông có nói đến CBTT và quy trách nhiệm cho người quản lý DN. Trên trang web của UBCK có công bố rất nhiều quyết định xử phạt nhưng mức xử phạt rất thấp mười mấy, 20 triệu, trên 20 triệu đồng.

Câu hỏi của tôi đặt ra là khi mà mình xử phạt các DN như vậy, họ vẫn tiếp tục CBTT, làm thế nào để hạn chế thấp nhất vi phạm, như quy trách nhiệm về uy tín của người lãnh đạo ấy?

Cách đây mấy năm, tôi thấy bên Uỷ ban, với DNNN quy trách nhiệm cho người lãnh đạo họ sẽ bị uy tín, ảnh hưởng tới bổ nhiệm tiếp theo khi đại diện vốn sở hữu nhà nước. DN bị phạt nhiều khi làm hồ sơ xem xét phát hành bị điểm trừ. Tôi nghĩ có thêm các giải pháp như thế tính răn đe tốt hơn?


Nhà báo Lan Hương.

- Ông Trần Văn Dũng:Chị Hương hỏi một câu khoảng 50% hướng tới cơ quan quản lý nhà nước. Còn 50% cho những người còn lại bình luận (Cười).

Đúng là có câu chuyện mức xử phạt DN nhìn từ bên ngoài còn nhẹ, chỉ từ mấy chục đến mấy trăm triệu.

Tại sao lại có câu chuyện như thế? Tại vì nó tùy theo mức độ vi phạm, phạt nặng hay nhẹ là phải hiểu theo quy định của pháp luật. Theo luật thì có một khung xử phạt và UBCKNN chỉ được xử mức tối đa theo khung đó. Bên cạnh đó, DN đã vi phạm và vẫn tái phạm thì sẽ áp dụng mức phạt theo khung khác nặng hơn.

Gợi ý của nhà báo là rất hay và chúng tôi đang đưa vào luật. Đối với tổ chức là DN niêm yết, công ty đại chúng thì tới đây sẽ bổ sung hình thức là không được phát hành trong một khoảng thời gian để trong thời gian đó, để xem họ có cải thiện không và nếu không cải hiện sẽ không được phát hành.

Đối với công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ do chúng tôi cấp phép hoạt động thì mức phạt có thể là tạm dừng hoạt động. Hiện giờ có những DN chưa tuân thủ ví dụ như DN phát hành ra công chúng một năm phải niêm yết nhưng một năm rồi họ không thực hiện nhưng làm lại nộp hồ sơ xin phát hành tiếp. Trường hợp đó bắt buộc phải niêm yết xong thì UBCKNN mới cho thực hiện phát hành.

Đối với cá nhân thuộc công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, thì UBCKNN sẽ bổ sung hình phạt đối với lãnh đạo và cá nhân hành nghề. Trong đó đối với lãnh đạo, nếu vi phạm nghiêm trọng, có hình phạt như không đủ điều kiện tham gia lãnh đạo, cấm tham gia HĐQT, Ban Tổng giám đốc, trưởng ban kiểm soát. Đối với cá nhân hành nghề thì có thể sẽ treo hoặc tịch thu vĩnh viễn chứng chỉ hành nghề. Hình thức xử phạt sẽ tăng lên tương đối mạnh trong luật chứng khoán mới.

Còn một số quy định thêm ở trong luật thì chúng ta biết rồi, ví dụ trước đây hình phạt đối với tổ chức tối đa là 2 tỷ, bây giờ đang nâng lên 3 tỷ, cá nhân thì từ 1 tỷ lên 1 tỷ rưỡi.

Ngoài ra, đối tượng CBTT được mở rộng ra, nhất là các đối tượng có liên quan nhưng vấn đề này đang gặp phải nhiều tranh cãi. Tóm lại, chúng ta phải cần có nhận thức chung và hành động chung.

Và chúng tôi muốn nâng cao vai trò của Kiểm toán, chúng tôi có suy nghĩ là VN30 cần phải để Big4 kiểm toán. Hiện 27/30 VN30 đã do Big4 kiểm toán rồi. Nhưng chắc chắn chúng tôi sẽ đưa vào quy định bản cáo bạch phải có ý kiến của kiểm toán.

- Ông Trần Đình Cường: Cám ơn ông đã có nhận xét ưu ái đối với các công ty kiểm toán Big4 nói chung và E&Y nói riêng.

Trên thực tế, điều này tôi đã kiến nghị 15 năm trước hoặc thậm chí còn lâu hơn thế. Năm 1992-1993, chúng ta có dự án xây dựng phát triển TTCK, chúng tôi thấy lỗ hổng rất lớn trong bản cáo bạch của các DN. Nhà đầu tư không mua quá khứ mà quan tâm đến kế hoạch kinh doanh trong tương lại, nhưng lời hứa của các DN lại không có ai xác nhận, kiểm chứng cả.

Tất nhiên, mọi người đều hiểu rằng nếu 1 năm, 2 năm hay 3 năm sau mà không làm được thì giá sẽ xuống hoặc lần sau phát hành không ai mua, nhưng giá thị trường thì nhà đầu tư phải trả rồi. Tôi thấy lần này nếu UBCKNN đưa được điều này vào luật sửa đổi là một bước tiến lớn. Về phía chúng tôi, chúng tôi cũng có điều kiện phát triển dịch vụ nhưng quan trọng hơn là đảm bảo tính minh bạch CBTT ra thị trường, bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và người liên quan chặt chẽ hơn.

- Bà Nguyễn Thị Nguyệt Anh: Tôi xin chia sẻ thêm vì đã nghe rất nhiều thông tin như về bản cáo bạch. Thực tế, chúng tôi đã có nghiên cứu một số trường hợp công ty cụ thể của Việt Nam đã thất bại trên thị trường chứng khoán và ban lãnh đạo bị bắt.

Bản cáo bạch của họ khi IPO rất tốt nhưng tìm hiểu thêm, chúng tôi thấy cơ cấu HĐQT của họ không có thành viên độc lập. Chủ tịch công ty, chủ tịch HĐQT cũng là người sở hữu lớn, có nhiều người thân trong HĐQT. Họ xây dựng chỉ số giá cổ phiếu tốt, hấp dẫn nhà đầu tư, có nhà đầu tư nước ngoài tham gia.

Khi nhà đầu tư nước ngoài tham gia, họ cũng không để ý đến cơ cấu HĐQT…. Họ không biết trong bản thân công ty có nhiều bên liên quan và họ làm giả báo cáo. Trên thị trường có những công ty như thế và đó là những công ty cực kỳ nguy hiểm với thị trường, nhà quản lý.

Đó là vấn đề về mặt quản trị. Tôi không rõ đó là do họ cố gắng muốn có nhiều tiền hơn hay họ rơi vào thế phải gian lận, làm số số liệu. Tuy nhiên, đây không phải tình trạng chỉ có ở Việt Nam. Trên thế giới cũng có nhiều trường hợp, kinh điển là Satyam, hay những công ty trên thị trường của Nhật Bản.
Tôi nghĩ đó là tình trạng chung không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn cầu.

Về mặt thể chế, ông Dũng có ý kiến chúng ta tăng hình phạt với công ty, cá nhân, người trong HĐQT, người có trách nhiệm giám sát. Đó là những biện pháp mang xu hướng “cây gậy”, nặng nề. Nếu phải phạt hết, tôi không biết UBCKNN có đủ người để đi tìm hiểu hay không và phạt hết xong có còn thành viên HĐQT ngồi trong công ty nữa hay không. Như ông Hưng đã nói, tại Việt Nam, tìm thành viên độc lập đã khó, tìm người làm các công việc như kiểm toán nội bộ, kiểm soát cũng khó.

Tôi xin nói thêm về Viện Thành viên HĐTQ. Viện Thành viên HĐQT Việt Nam (VIOD) chính thức ra đời tháng 4/2018. Trong Sáng kiến quản trị công ty Việt Nam từ tháng 12/2016, IFC đã phối hợp với 2 sở GDCK, với sự hỗ trợ của các tổ chức như UBCKNN, qua đó, thành lập VIOD. Trong một năm qua, VIOD đã có nhiều chương trình nâng cao nhận thức, cập nhật kiến thức về quản trị công ty, nhận được sự tham gia của các thành viên HĐQT các công ty.

Chúng tôi rất vui khi có sự kết nối của nhiều tổ chức trong sáng kiến. Hiện đã có 2 sở giao dịch, UBCKNN, các Big4, quỹ đầu tư... và hệ thống sẽ được mở rộng hơn nữa trong tương lai.

- Ông Nguyễn Duy Hưng: Cảm ơn bà Nguyệt Anh. Việc đào tạo có thể là điều rất tốt, nhưng tôi không biết có là cứu cánh trong giai đoạn hiện nay hay không.


Ông Trần Văn Dũng.

- Phóng viên Minh Tuấn (VnExpress): Trong phần trình bày của ông Long tôi rất chủ ý đến kiểm soát thông tin mà DN chủ động đưa ra có ảnh hưởng đến thị trường, cụ thể là giá cổ phiếu.

Tháng 9/2018, Ủy ban Chứng khoán Mỹ có phạt Tesla không kiểm soát được các dòng Twitter. Đứng ngoài quan sát thị trường có thể thấy DN chủ động đưa thông tin ra, có nhiều thông tin ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên thị trường.

UBCKNN có xác định việc kiểm soát các thông tin này không? Theo tôi biết, các thị trường khác kiểm soát vấn đề này rất chặt và chỉ cần một thông tin DN chủ động đưa ra ảnh hưởng đến giá cổ phiếu chắc chắn sẽ bị phạt. Ở thị trường Việt Nam có xác định chế tài xử phạt đó hay không?

Câu hỏi thứ hai tôi muốn gửi tới ông Trần Đình Cường. Trong phần chia sẻ của ông có nói đến việc các công ty kiểm toán, đôi khi không thể kiểm soát được nếu DN cố tình hay chủ động làm sai lệch. Trên sàn chứng khoán, đặt vai trò là nhà đầu tư, các công ty kiểm toán gần như là kiểm soát cuối cùng, ngoài DN công bố ra bên thứ 3 tin cậy nhất là kiểm toán. Nhưng ông Cường đã nói như vậy, là nhà đầu tư, họ biết tin vào đâu? Tôi xin bình luận của ông Cường và ông Trần Văn Dũng?

- Ông Phan Lê Thành Long: Hiện nay có nhiều cách CBTT. Ở Việt Nam có tình trạng nhiều DN vừa CBTT thì tác động ngay tới thị trường chứng khoán. Có những vị chủ tịch đưa thông tin khá mập mờ lên một số trang tài chính, và chính cách truyền thông này gây ảnh hưởng giá cổ phiếu sau đó.

Có trường hợp DN đưa ra thông tin lợi nhuận cao, vượt kế hoạch, khiến giá cổ phiếu lên rất mạnh. Tồi tệ là sau đó đồng loạt nhân sự nội bộ đăng ký bán ra.

Nếu tôi là thị trường, tôi cần phải đánh giá một cách thấu đáo bản chất thật sự của công ty đó.

Trên thị trường quốc tế, người ta có phân loại thông tin nhạy cảm hay không nhạy cảm về thị trường, và khi CBTT, DN phải nói rõ.

Nói về vấn đề kiểm toán thông tin tài chính của DN, tôi cho rằng nhà đầu tư phải tự trang bị cho mình kiến thức để xem thực sự vấn đề như thế nào. Bởi kiểm toán ở Việt Nam bị 1 số giới hạn, trong khi luật chứng khoán cũng gặp khó khi đưa ra định nghĩa về các bên liên quan.

Ở đây, truyền thông, báo chí, với khả năng điều tra, nên đóng vai trò cảnh báo cho nhà đầu tư. Ngoài ra, nhà đầu tư cũng phải có hiểu biết về DN, nâng cao khả năng giám sát thị trường…

- Ông Trần Đình Cường: Nếu như các anh chị đọc kỹ trong báo cáo kiểm toán sẽ thấy, lãnh đạo DN là người chịu trách nhiệm chính, không phải kiểm toán. Trách nhiệm của họ giống như đan lưới, không để lọt những sai sót. Trách nhiệm của kiểm toán là đưa ra sự đảm bảo - nhưng đảm bảo một cách hợp lý và báo cáo có sai sót trọng yếu hay không. Kiểm toán không phải bảo hiểm, báo cáo được kiểm toán không có nghĩa là không còn gì sai.

Đó là đặc thù của công việc kiểm toán, chúng tôi làm theo cơ sở chọn mẫu, có những đơn vị một năm hay nhiều năm mới kiểm toán một lần. Những việc xảy ra trong qúa khứ không phải lúc nào cũng đủ thông tin. Ví dụ như kiểm kho là đã kiểm rồi, chúng tôi không dự nên không xác nhận được.

Có rất nhiều hạn chế, bên cạnh đó vẫn còn những kẽ hở pháp luật, kể cả nước ngoài cũng vậy. Chính vì vậy, chuẩn mực kiểm toán của nước ngoài cũng như Việt Nam có quy định rất rõ về trách nhiệm của kiểm toán. Tất nhiên chúng tôi không thoái thác trách nhiệm của mình và không nói rằng kiểm toán không cần làm gì, nhưng nếu DN cố tình làm rất khó phát hiện. Có những trường hợp thấy DN không minh bạch, chúng tôi tránh từ đầu “cho lành”.

Chính vì thế nhiều DN trong VN30 chọn công ty kiểm toán Big 4 là như vậy. Các công ty kiểm toán rất nghiêm túc, nhưng vẫn có có những khách hàng Big 4 không nhận và cũng có những DN chưa tín nhiệm Big 4.

Chúng tôi cũng có hạn chế của mình nhưng kiểm toán không phải là người đảm bảo cuối cùng. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực chung của toàn xã hội. Đối với CBTT, chúng tôi cũng làm việc với một số đơn vị niêm yết hoặc huy động vốn trên thị trường quốc tế. Họ phải tuân thủ các quy định quốc tế và vai trò của các bên tham gia rất quan trọng. Quy định là một chuyện nhưng họ xét rất kỹ, chúng tôi có khi mất cả tuần chỉ để thay đổi một chữ trong báo cáo.

Thậm chí, trong quá trình làm việc các bên còn giận hờn không nhìn mặt nhau, chửi mắng nhau, tất cả để đảm bảo cho chất lượng báo cáo. Kiểm toán có góc nhìn của kiểm toán, đơn vị tư vấn có góc nhìn riêng. Cơ quan quản lý yêu cầu phải chặt chẽ, chính xác, minh bạch nhất. Bên tư vấn lại muốn thuận tiện và nhanh nhất, giá cổ phiếu phát hành đem lại nhiều lợi ích nhất. Kiểm toán là người bảo thủ nhất trong quy trình này, trách nhiệm của tôi là thế này, thế khác. Thay đổi một chữ hoặc các đánh dấu thôi cũng rất khó khăn.

Ở Việt Nam vẫn còn khá xa với thông lệ quốc tế, tất cả các bên từ UBCKNN, công ty niêm yết, đến truyền thông cần khắt khe hơn. Tất cả chúng ta cần quyết tâm xây dựng thị trường lành mạnh, không có bên nào chịu trách nhiệm đầu tiên hay cuối cùng ở đây cả.

- Ông Trần Văn Dũng:Tôi rất thích ý đó là trách nhiệm của tất cả chúng ta. Như tôi đã nói, nếu đưa ra một giải pháp thì đó là giải pháp hình quả mít, giải pháp chúng ta phải đi cùng nhau.

Trong quá trình kiểm toán, Big 4 thường có phần mềm chọn mẫu nhưng các công ty kiểm toán nhỏ thì thường không có nên có thể xuất hiện trường hợp chọn mẫu mang tính chủ quan của kiểm toán viên. Đó là vì sao trong 150 công ty kiểm toán được cấp phép nhưng UBCKNN chỉ chọn ra 30 công ty được kiểm toán cho DN niêm yết, công ty chứng khoán, côgn ty quản lý quỹ. Và UBCKNN cũng không bảo đảm được 30 DN đó thì tất cả lãnh đạo kiểm toán và kiểm toán viên đều tốt.

Để nói rằng kiểm toán có chuẩn mực của kiểm toán, nếu anh vi phạm chuẩn mực thì kiểm toán có vấn đề. UBCKNN sẽ loại kiểm toán viên nếu vi phạm sau đó quy trách nhiệm cho công ty kiểm toán.

Chúng tôi đưa vào luật ý sau khi kiểm toán nếu có phát hiện sai sót trọng yếu thì kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải báo cáo UBCKNN. Ví dụ kiểm toán hàng tồn kho đối với 1 chuẩn mực hành nghề kiểm toán thì thấy hàng tồn kho có giá trị lớn, ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC thì kiểm toán phải đến kiểm kho. Nhưng kiểm kho quá lớn, ví dụ, đến kho cà phê, kiểm toán viên đến nơi thấy khó chứa đúng cà phê, như vậy cũng là tốt rồi chứ bản thân kiểm toán không thể kiểm soát sâu hơn bên trong. Nhưng có thể bên ngoài là cafe thật nhưng bên trong là gì thì lại là vấn đề của DN. Đến một lúc nào đó thông qua hoạt động giám sát khác kiểm toán mới phát hiện ra những câu chuyện khác, sự thật khác thì phải báo cáo.

Còn vấn đề lãnh đạo dùng Twitter, nếu trong dòng tweet làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu thì UBCKNN có kiểm soát không? Mấy năm trước có tin ông Bắc Hà bị bắt, lúc đó là do một số thanh niên đưa lên room chat cho vui, và sau đó bị xử lý hành chính. Chúng ta đang nói tất cả đi cùng nhau thì trước hết thông tin đó một DN quản trị tốt thì lãnh đạo DN không làm điều đó, một công DN quản trị tốt thì công ty sẽ xử lý việc đó, cơ quan quản lý phát hiện ra việc đó sẽ yêu cầu DN giải trình và đính chính thông tin. Tất nhiên quy định ở đâu thì câu trả lời là không có.

Nếu một DN có quản trị tốt thì sẽ có chuẩn mực và là tuyến bảo vệ mình đầu tiên.

- Ông Nguyễn Duy Hưng: Có 2 vấn đề ở đây là chất lượng thông tin và cách CBTT. Rất nhiều chủ DN đưa thông tin bên ngoài theo cách này hay cách khác, đặc biệt là những thông tin liên quan đến phát hành cho đối tác với giá này giá kia. Nhưng cái đó không thật. Vì nếu thật thì không được nói.

Trước khi ký hợp đồng chúng tôi phải ký hợp đồng bảo mật cùng công bố thông tin trong ngày nào đấy. Còn kênh công bố thông tin qua có thể qua báo chí, Tweet, Facebook về nguyên tắc là giống nhau. Các thông tin gây ảnh hưởng như thế được quy định rõ trong quy định công bố thông tin, trước khi có thông tin gửi qua báo chí thì phải được UBCKNN cho phép.

Ngay như chúng tôi có kết hợp cùng Người Đồng Hành, và tôi cũng dùng Facebook rất nhiều nhưng khi muốn CBTT tôi phải gửi đến UBCKNN.

Cái thứ 2 là chủ DN muốn đưa thông tin ra ngoài nhưng ở dưới dạng tin đồ, thì cài này UBCKNN và Sở được quyền yêu cầu giải trình công bố. Ví dụ cổ phiếu YEG, họ nói hợp đồng với Youtube trước đây tỷ trọng lợi nhuận khác nhau sau 2 lần công bố, cái nào là thật phải giải trình rõ ràng.
Những thông tin liên quan đến việc các hợp đồng ký kết mới và cũ đều phải yêu cầu giải trình vì tin đồn đó sẽ ảnh hưởng đến nhà đầu tư.

Ví dụ như dự án xảy ra với công ty chăn nuôi ở Nghệ An liên quan đến con ông Trần Bắc Hà. Ngay lúc đây tin đồn về các công ty liên quan rất nhiều trên thị trường. Đây là lúc UBCKNN phải yêu cầu giải trình và công bố thông tin. Đó là chất lượng thông tin và cách công bố thông tin. Các DN đều bắt buộc phải giải thích trực diện khi có những thông tin, tin đồn trên thị trường. Đó là điểm quan trọng nhất trong việc công bố thông tin. Mời các nhà báo khác đặt câu hỏi.

- Phóng viên Văn Tín (Vietnambiz): Tôi có nghe mọi người nói rất nhiều về những tiến bộ của các công ty trên thị trường, về VN30 nhưng mọi người chưa nói các công ty nhỏ làm việc này trên thị trường thế nào.

Tôi nói chuyện với một số nhà đầu tư họ nói một số DN trên sàn UPCoM, HĐQT nắm quyền chi phối DN, họ sử dụng quyền thay đổi chế DN, từ đó lách luật như thực hiện phát hành không thông qua Tổng giám đốc. Với vấn đề này, quan điểm của các diễn giả như thế nào? Các nhà đầu tư nên làm như thế nào?

- Ông Nguyễn Duy Hưng: Đứng trên cương vị công ty chứng khoán, khi nhà đầu tư không thỏa mãn, họ có rất nhiều quyền. Quyền đầu tiên, nhà đầu tư gửi khiếu nại lên HĐQT. Nếu không được giải quyết, quyền thứ hai là khiếu nại lên UBCKNN. Quyền thứ ba là quyền gửi khiếu nại lên tòa án. Vì không có một chuẩn nào áp dụng cho các công ty kiểu kiểu như thế.

Nhà báo đang hỏi về chế tài CBTT thôi còn các quy định pháp luật thì giống nhau rồi. Cái quyền lớn nhất là quyền của nhà đầu tư được gửi khiếu nại trực tiếp, đúng trường hợp ấy trước hết lên HĐQT DN, mức cao hơn là lên Sở, UBCKNN, cao hơn nữa là tòa án. Còn nếu để giải quyết với từng trường hợp riêng lẻ thì không có một giải pháp nào.

Vấn đề phải nhìn nhận là khi nhà đầu tư yêu cầu bản thân họ cũng chủ quan đã. Cuối cùng có một nơi trả lời được đúng hay sai đó là tòa án. Còn UBCKNN, các sở, cở, cơ quan giúp làm minh bạch tất cả thông tin ấy. Cuối cùng lại chuyển về cho nhà đầu tư. Cơ quan duy nhất có quyền phán ai đúng, ai sai giải quyết thế nào là tòa án.

Trong trường hợp này tôi không nói đúng hay sai nhưng cũng là ý kiến chủ quan của nhà đầu tư. Nếu một ngày nhận được 500 cái ý kiến như vậy (vì có tới 1.700 DN hiện nay niêm yết trên sàn) thì không có bộ máy nào dễ dàng giải quyết được. Cách tốt nhất trong các trường hợp như vậy, cơ quan giải quyết tốt nhất là tòa án.

Ở cương vị Chủ tịch UBCKNN, những trường hợp như này có gì dễ hơn tôi không biết nhưng ở đơn vị tư vấn trung gian thuần túy, tôi thường khuyên nhà đầu tư lên tòa án kiện.

- Ông Trần Văn Dũng: Đứng ở khía cạnh cơ quan quản lý, chúng tôi không thể trả lời được hết các câu hỏi đó. Chúng tôi có trách nhiệm trả lời nhưng chỉ trả lời vấn đề cụ thể và có nội dung. Chúng tôi có nhận được nhiều đơn thư, phản ánh có hiện tượng như thế, chúng tôi ghi nhận nhưng không thể trả lời được. Nhưng nếu đặt ra vấn đề cụ thể như DN, HĐQT thế này thế kia thì chúng tôi có trách nhiệm phản ứng.

Có nhiều cách phản ứng như bắt DN giải trình, hoặc nếu vấn đề nghiêm trọng chúng tôi sẽ gửi cho cơ quan điều tra. Hoặc chúng tôi sẽ lập đoàn kiểm tra, thanh tra nếu thuộc thẩm quyển của mình. Một số cái chúng tôi phải trả lời theo quy định của pháp luật nếu có đầy đủ thông tin, nếu nặc danh thì không thể trả lời. Nếu phản ánh chung chung thì chắc chắn sẽ không có cơ quan quản lý nào trả lời.

Câu chuyện thứ 2, nếu có hiện tượng như thế thì quay lại vấn đề quản trị DN của từng DN, nếu DN không minh bạch thì nhà đầu tư sẽ không vào. Tôi nhớ một lần có đi dự một hội nghị bàn về một dự án đầu tư. Hôm đó ở một tỉnh, có lãnh đạo tham gia... Tất nhiên có câu chuyện đúng, có câu chuyện không.

Sau khi nghe, DN có nói: “Các anh có rất nhiều quyền và các anh đang làm đúng, nhưng chúng tôi không theo được. Xét đến cùng chúng tôi chỉ có quyền rất nhỏ và quyền duy nhất đó là quyền không đầu tư”. Dự án đó có giá trị mấy nghìn tỷ rất có lợi cho địa phương đó. Sau đó, DN đó lập tức triển khai dự án gần như ý chang dự án đó ở tỉnh bên cạnh.

Một DN nếu có những câu chuyện như thế thì nhà đầu tư sẽ tránh xa. DN nào M&A phải làm cho chuẩn. Vụ hiện nay chúng ta đang theo dõi là VNM đang thâu tóm GTN. Họ làm công khai, minh bạch mặc dù đối tác không đồng ý, nhưng họ làm đúng luật. Nhà đầu tư cảm thấy hài lòng với VNM. Đây chính là minh bạch với thông tin và nhà đầu tư khi có đủ thông tin thì họ cảm thấy thoải mái.


Bà Nguyễn Thị Nguyệt Anh.

- Bà Nguyễn Thị Nguyệt Anh: Vì là cổ đông nhỏ lẻ nên họ không có quyền tham gia quyết định với các quyết định của công ty, khi đã được biểu quyết quá bán theo luật. Chính vì vậy, việc bảo vệ cổ đông nhỏ lẻ cần làm từ trước, đi từ phía các cơ quan quản lý, thành viên trên thị trường, quan trọng nhất là từ phía công ty.

Điểm ông Dũng vừa phân tích là cổ đông có quyền đến và có quyền đi. Nếu họ sai lầm thì lần sau sẽ không đầu tư nữa. Các nhà đầu tư bên cạnh, trên thị trường cũng không đầu tư vào công ty đó nữa. Điều này đi từ chính phía công ty.

Trước đây, chúng ta nói trách nhiệm cuối cùng có thuộc về kiểm toán bên ngoài hay không? Hay thuộc về cơ quan quản lý hay bên tư vấn đầu tư khi làm IPO?

Tôi nghĩ bản thân công ty chịu trách nhiệm đầu tiên và người lãnh đạo công ty cấp cao nhất, chính là HĐQT. Quản trị công ty xoay quanh việc HĐQT đưa ra những giám sát, định hướng, tổ chức hoạt động như thế nào để đảm bảo các rủi ro được lọc, công ty phát triển bền vững trong tương lai. Chúng ta không chỉ nhìn trong 1 2 năm mà về lâu dài, tiếp tục thu hút giá trị cổ đông.

Tôi xin chia sẻ như vậy.

- Nhà báo Duy Thái (Thời Báo Tài Chính): Thứ nhất, các diễn giả có đề cập ở nhiều góc cạnh cơ quan quản lý, DN và một phần là nhà đầu tư. Tôi vẫn thấy thiếu góc cạnh của cơ quan tư vấn. Các DN công bố lần đầu, vai trò của đơn vị tư vấn rất lớn. Mong các anh chị chia sẻ vấn đề đó.

Thứ hai, các diễn giả nói câu chuyện kiểm toán nhiều, tôi thấy còn câu chuyện chế tài cho các đơn vị kiểm toán như thế nào, có gì thay đổi hay không? Big4 tốt rồi nhưng còn rất nhiều trường hợp khác, nhiều hạt sạn khác. Năm vừa qua, chỉ có trường hợp kiểm toán Hà Nội cũng bị xử lý. Nhưng thực ra theo luật, vài năm sau công ty đó lại quay lại bình thường. Mong các diễn giả chia sẻ có chế tài ra sao có quy định hình sự hay không, phạt tiền như thế nào hay chỉ bị rút giấy phép hành nghề?


Nhà báo Duy Thái.

Thứ ba, ông Long Phan có đề cập nhà đầu tư phải tự nâng kiến thức, còn một yếu tố nữa hay nhắc đến cá mập hay nhà cái. Câu chuyện đó rất mông lung nhưng ai cũng hình dung được. Câu chuyện đó có quy định gì để áp không? Nếu như ông Long Phan thì chỉ là kêu gọi thôi. Vai trò nữa mà như ông Nguyễn Duy Hưng làm rất tốt đó là vai trò lãnh đạo của các nhà đầu tư tổ chức người ta sẽ tạo ra kiến thức, tạo ra chuẩn mực, cái đó các ông có ý kiến gì không?

Một nhà báo có nhờ gửi 15 câu hỏi, tôi xin trích 2 câu.

Câu thứ nhất gửi ông Trần Văn Dũng, cơ quan quản lý có ý định nâng cao tiêu chuẩn về công bố thông tin với nhóm VN30 và VN50 hay không để tạo khung mẫu dẫn dắt thị trường?

Thứ hai hỏi ông Hưng, các nhà đâu tư tiếp nhận thường xuyên các báo cáo đánh giá thị trường. So với thị trường Việt Nam, quốc tế, người ta dựa vào PE nhưng thực tế các DN Việt Nam tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế rất ít. Người ta có hỏi ông Hưng, dự báo của các công ty chứng khoản cũng ảnh hưởng lớn đế thị trường. Vừa là lãnh đạo DN bình thường vừa là lãnh đạo công ty chứng khoán, ông bình luận như thế nào?

Thực tế có trường hợp báo cáo của công ty chứng khoán vênh với thực thế DN, báo cáo của các công ty chứng khoán vênh nhau. Ông Hưng có bình luận ra sao, giải pháp hạn chế thực tại đó?

- Ông Nguyễn Duy Hưng: Tất cả báo cáo phân tích là tài liệu tham khảo và CTCK cũng lưu ý rằng đó là yếu tố tham khảo.

Khi làm một báo cáo là dự đoán tương lai nên không thể chính xác 100%, nhưng báo cáo phải dựa vào các yếu tố thuyết phục của DN. Độ chính xác, đạo đức nghề nghiệp của công ty ra báo cáo ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của DN trong tương lai.

Thế còn tất cả công ty chứng khoán mà nghĩ thế này ra cái kia thì là một chuyện khác. Với những công ty làm đúng thì họ sẽ nói ra những gì họ nghĩ và có cơ sở để giải thích thì bất cứ các công ty tư vấn, ngân hàng tài chính nào cũng không thể chính xác hoàn toàn. Vì giá hiện tại theo thị trường trong khi người ta đang nói về giá tương lai, mà tương lai thì không chắc được nhưng những luận cứ đưa ra cần phải thuyết phục bởi các chuyên gia tài chính nói ra.

Thứ 2 là làm sao để chống nhóm nọ nhóm kia, thì quyền lớn nhất là quyền của nhà đầu tư không đầu tư. Nếu ông A kêu là có ông này ông kia CBTT có vấn đề thì có lựa chọn là không quan tâm đến cổ phiếu đó nữa. Và đó là điều quan trọng nhất trên thị trường, chứ không phải là chúng ta kêu rồi vẫn lao vào. Như thế thì chúng ta không phải đang chống lại. Đó là thực tế cần nhìn nhận.

Vì vậy, các công ty tư vấn hay các định chế trung gian, ủy ban chỉ có thể là CBTT một cách công khai minh bạch nhất, còn thông tin đó có thật hay không và được làm che đậy thì hiện nay không có bộ lọc nào có thể kiểm soát được hoặc là những điều có thế diễn ra trong tương lai cũng không thể biết được.

Và quyền của nhà đầu tư là nếu nghi ngờ các thông tin thì có thể sẽ là không đầu tư vào cổ phiếu. Vậy thì đó sẽ là việc không liên quan đến mình mà đó là câu chuyện của thị trường, của công ty chứng khoán, sở, các CTCK mang DN lDên sàn…

- Ông Trần Đình Cường: Tại Việt Nam, luật không quy định, kiểm toán viên hành nghề phải là hội viên bắt buộc của hiệp hội kiểm toán viên hành nghề. Trong khi trên thế giới các nước đều quy định như vậy, vì hội nghề nghiệp mới là nơi có đầy đủ thông tin về nghề, từ đó ban hành được những quy định chặt chẽ nhất.

Việt Nam hiện quy định Bộ Tài chính là cơ quản quản lý Nhà nước nhưng nếu quản lý cả hành nghề rất khó. Các nước khác muốn cấp chứng chỉ kiểm toán hoặc giấy phép hành nghề bắt buộc phải thi tuyển. Toàn bộ kỳ thi do hiệp hội nghề nghiệp tổ chức, còn Việt Nam hiện là Bộ Tài chính. Các hiệp hội yêu cầu phải tuân theo quy định của họ, từ đó họ có quyền giám sát chất lượng, giúp việc quản lý nghề nghiệp chặt chẽ hơn.

Việt Nam không bắt buộc điều này, anh thi bằng do Bộ Tài chính tổ chức và phát hành chứng chỉ, anh có là hội viên không không quan trọng, tất nhiên vẫn có quy định. Bộ Tài chính trực tiếp kiểm tra chất lượng của kiểm toán chứ không phải hiệp hội. Theo tôi đây là điểm yếu nhất của hiệp hội. Chúng tôi đã đấu tranh rất nhiều nhưng chưa được Quốc hội thông qua.

Tại Việt Nam, hiện chỉ có hội luật sư có điều kiện bắt buộc phải thuộc hội luật sư. Trên thế giới quy định của luật sư và kiểm toán viên khá giống nhau, đòi hỏi việc quản lý phải đặc thù, chặt chẽ hơn. Đó là điều còn thiếu và là rào cản kiểm soát chất lượng, đặc biệt với các công ty nhỏ rất khó khăn. Hiệp hội chỉ kiểm tra hội viên của mình, trong khi có khoảng gần 200 công ty kiểm toán, Bộ Tài chính không thể kiểm soát hết được.

Về các chế tài khác, chế tài xử phạt đối với kiểm toán viên đã có nhưng phần lớn là xử phạt hành chính, các quy định về tài chính chưa đáng kể. Điều này cần phải nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, tại Việt Nam có quy định tất cả các công ty kiểm toán phải mua bảo hiểm nghề nghiệp, nếu như có tranh chấp xử phạt mang tính tài chính vẫn có thể triển khai được. Tôi nghĩ đây là chế tài mang tính răng đe cao hơn, không chỉ là việc treo bằng hay treo giấy phép. Tất nhiên các sai phạm phải mang tính vi phạm pháp luật và các chuẩn mực.

- Ông Trần Văn Dũng: Về chế tài cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán, hiện nay chỉ có chế tài hành chính là rút giấy phép và chủ yếu chỉ áp dụng cho kiểm toán viên.

Chế tài cho công ty cũng có nhưng trên thực tế rất hiếm khi áp dụng. Về tài chính thì hạn chế, xử lý hình sự thì chưa có. Như vừa rồi tôi có nói bí mật chọn mẫu và có nguyên tắc chọn mẫu, nhưng nếu có kiểm toán viên cố tình không làm theo chuẩn mực hoặc thông đồng DN thì quan điểm của tôi là phạm tội mang tính hình sự, cho nên có thể truy cứu. Và có lẽ không cần đến chế tài mà luật hình sự hiện tại cũng có thể xử lý, có điều chúng ta chưa làm đến chuyện đó.

Như vậy theo tôi, nếu có trường hợp phát hiện rõ ràng thì với luật hình sự hiện tại hoàn toàn có thể sử dụng. Và nếu được như thế thì sau này cũng nên đưa vào một số chế tài. Như vậy không phải là để “đánh” kiểm toán, mà tôi nghĩ nếu được như thế thì hoạt động kiểm toán sẽ chuẩn mực hơn, tăng được lòng tin cho nhà đầu tư.

- Ông Phan Lê Thành Long: Ở đây phải xem rõ đâu là hành vi về mặt chuyên môn, đâu là hành vi có tính chất hình sự. Nếu là hành vi chuyên môn thì phải để tổ chức chuyên môn xử lý. Còn hành vi có tính chất hình sự thì phải phụ thuộc vào cơ quan điều tra. Thực tế, luật hình sự đã có quy định về vấn đề này, ví dụ trong hoạt động định giá. Nếu có sự thông đồng, trục lợi thì phải có xử lý hình sự.

- Ông Trần Văn Dũng: Trong Luật hiện tại, quan điểm của chính phủ khắt khe hơn là quy trách nhiệm của UBCKNN, công chức hay viên chức của các sở giao dịch được đưa luôn vào luật. Tháng 5 này Quốc hội sẽ có ý kiến ban đầu.

Về vai trò của đơn vị tư vấn trong IPO, thông thường trong đợt IPO bản thân DN muốn huy động nhiều, giá cao hơn. CTCK có lợi ích trong việc làm thế nào để bán được nhiều. Trong câu chuyện này thì NĐT muốn mua DN tốt với giá rẻ. Tôi tin rằng nếu CTCK nhỏ phát hành cho DN không tốt nhưng nói là tốt thì ít người tin. Nhưng với CTCK lớn thì sẽ tạo yếu tố niềm tin cao hơn. Không chỉ có vai trò của công ty tư vấn mà còn có vai trò của DN hay công ty kiểm toán.

Chế tài của kiểm toán chúng ta vừa bàn xong, có một từ các anh dùng nhưng cơ quan quản lý không dùng từ “nhà cái”, nhưng các anh đã dùng thì tôi cũng dùng luôn. Đây là câu chuyện muôn thuở của thị trường. Đến cả những thị trường bậc cao như Mỹ vẫn thấy điều này. Cách đây mấy ngày thấy một công ty ở Singapore thao túng chứng khoán trong 12 bị phát hiện và phạt khá nặng.

Câu chuyện này chúng ta đã quy định rõ trong luật, và là cơ quan quản lý thì chúng tôi theo sát rất chặt.

Về vấn đề nhà cái, nhà cái ở đây có thể là một cá nhân hay một nhóm. Thậm chí có những việc nguy hiểm hơn là tay ba giữa DN, nhà đầu tư với đơn vị tư vấn. Cấp độ cao hơn nữa là cả kiểm toán cũng tham gia thì rất phức tạp. UBCKNN là cơ quan quản lý sẽ giám sát nhưng đến đâu thì lại là một câu chuyện. Bởi vì UBCKNN nghĩ được 1 thì bên ngoài nghĩ được nhiều hơn. Những người xuất sắc nhất hiện nay có vẻ tập trung vào những công ty lớn chứ không nằm ở cơ quan quản lý. Nhưng nếu chúng ta không tập trung giám sát sẽ loạn.

Vấn đề tiếp theo là nâng cao tiêu chuẩn VN30, VN50. Chúng tôi có thảo luận vấn đề này. Chúng tôi đang suy nghĩ, nghiên cứu nhưng chưa quyết việc những DN trong VN30 và tới đây là VNX50, phải thực hiện thí điểm áp dụng IFIS cùng với CTCK và QLQ, chúng tôi cho rằng đây là những DN khá quy chuẩn.

Trên VNX50 có hơn 40 DN là Big 4 kiểm toán, còn lại là Big 6. Tác động của IFRS là rất lớn nên hiện chúng tôi đang có đề án nghiên cứu tác động. Bộ Tài chính cũng có một đề án nghiên cứu lộ trình áp dụng IFRS nhưng lộ trình này tôi thấy hơi dài. Nếu áp dụng thí điểm trước thì cũng phải đánh giá tác động. Nếu áp dụng trước mà thành công thì lộ trình sẽ rút ngắn lại.

Kiểm soát báo cáo phân tích như thế nào? Nhiều CTCK đưa ra một số nhận định sai, ví dụ nhận định số dự trữ ngoại hối. Mình nói là dự trữ ngoại hối hiện tại đang tốt, bảo đảm để tránh được các cú sốc. Nhưng 1 CTCK lại đưa ra số dự báo chênh nhau và nhà đầu tư tin vào số nào thì tin.

Chất lượng báo cáo của các CTCK mang tính chất khuyến nghị nhưng lại ảnh hưởng lớn nên chắc chắn phải có câu chuyện khi CTCK đưa ra báo cáo phải có trách nhiệm cả hình sự hay dân sự. Biện pháp của UBCKNN có biện pháp là nếu có đánh giá mang tính chất nhạy cảm phải có cơ sở. NĐT cần chọn CTCK để tin.

- Ông Nguyễn Duy Hưng:Có một nhà báo hỏi tôi là các dữ liệu dựa vào PE, để đầu tư như thế nào quan trọng không. Yếu tố đó là cơ bản mang tính tham khảo rất quan trọng nhưng chúng ta đang mua bán tương lai thành thử có công ty lỗ mà cổ phiếu vẫn lên.

Vì thế không có một quy chuẩn nào cả. Cho nên những cuộc họp với các ngân hàng đồng bảo lãnh, các quan điểm về giá rất khác nhau và cãi nhau. Vì nó ở các góc nhìn khác nhau, còn những người gắn với thị trường Việt Nam thì mức giá lại khác.

Thường quan điểm của SSI tích cực nhất. Cần lưu ý rằng, giá phát hành cho nhà đầu tư lớn khác so với giá thịt rương tại thời điểm ấy. Bởi vì với các cổ phiếu ở thời điểm đó mua rẻ thì rất rẻ nhưng mua đúng khối lượng lại rất là cao. Tại sao thị giá Vinamilk đang thấp thì lại bán được bán với giá cao hơn. Giá của các ông bảo lãnh và giá trên thị trường là rất khác nhau.

Cái thứ 2 là các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp đánh giá theo hội đồng. Vì vậy người ta cần biết mức giá kỳ vọng là bao nhiêu để có thể ra quyết định. Người mà ra lệnh không được quyền quyết vì thế chugn s tôi mới cố trình UBCKNN đấu giá theo kiểu dựng book building thì hội đồng đầu tư của nhà đầu tư lớn mới quyết định.

Thành thử ra khi VNM có thị giá thấp, chúng tôi vẫn bán được cho tổ chức nước ngoài với giá cao hơn và sau đó nó lại xuống. Cho nên giá của các ngân hàng bảo lãnh và giá thị trường là khác nhau về cách nhìn.

Tất cả các yếu tố P/E và chỉ số khác là rất quan trọng nhưng đó chỉ là yếu tố tham khảo để so sánh với ngành tương đương với nhau và các đơn vị liên quan, chứ không có nghĩa rằng đó là chuẩn nào đấy. Nói đi nói lại, nhà đầu tư cần chọn những nhà đầu tư uy tín nhất, để tham khảo và tự đưa ra quyết định của mình.

Kể cả có đưa tiền cho một tổ chức chuyên nghiệp thì cũng chưa chắc đã hiệu quả vì giá trên thị trường phản ánh theo cả thông tin chính thống và không chính thống. Thị trường phản ánh theo kỳ vọng số đông nhà đầu tư, đương nhiên cũng dựa vào nguyên lý cơ bản nhưng chỉ đóng góp dưới 50% quyết định đầu tư.

Năm nào tại thời điểm nào chúng ta hỏi nhau cũng nói với nhau là khó khăn trong đầu tư và chỉ có khi chúng ta trải qua rồi thì mới có thể thể biết. Cuối cùng chỉ là các quan điểm.

Nếu 10 ông lớn ngồi với nhau mà cùng nhìn với nhau thị trường tích cực thì nó sẽ là tích cực, trong khi 10 ông lớn ngồi với nhau nhìn theo kiểu lắc đầu thì nó sẽ là lắc đầu.

Nhưng còn cơ sở nào để họ nhận định thì quan điểm khác nhau, không thể chỉ ra rõ từng điểm một được. Thị trường Mỹ cũng có lúc thế này thế kia. Nếu mà mọi thứ đều có thể kiểm soát một cách hoàn toàn thì thị trường chứng khoán không còn hấp dẫn. Đó mới là sự hấp dẫn và như vậy mới có thể trở thành kênh huy động vốn tốt của thị trường.

- Ông Nguyễn Duy Hưng:Chúng ta quy định xử phạt với các bên liên quan như đơn vị kiểm toán, công ty chứng khoán, DN... vậy thì với Ủy ban có cơ chế pháp luật nào không, thưa ông Dũng?

- Ông Trần Văn Dũng: Cơ quan quản lý không được bình luận về giá. Một câu chuyện thật cá nhân đó là chỉ tiêu về PE hay PB sẽ chuẩn hơn cho các DN đại chúng hoạt động ổn định. Đối với các DN tăng trưởng và này kia sẽ sai lệc nhiều.

Tôi có dịp đi công tác tại Singapore qua dự án Marina Bay Sands đang trong giai đoạn chuẩn bị đưua vào sử dụng. Tại thời điểm đó, thị trường BĐS thế giới xuống thê thảm. Trước khi sang đó vô tình nghe được câu truyện đầu tư vào đó mua cát nhiều nơi trong đó có Kiên Giang Việt Nam. Một người nói thị trường khó khăn thì DN này sẽ phá sản.

Lúc sang, tôi thấy các thứ chuẩn bị rất rầm rộ. Nghe một câu chuyện khác nhưng thấy lại là câu chuyện khác. Hỏi một người có uy tín ở Sing có tham gia dự án đó. Temasek chính phủ Singapore bỏ tiền đầu tư dù rủi ro. Việc hoàn thành và đưa vào sử dụng thì nguồn thu lớn nhưng không hoàn thành với nguồn vay lớn thì sẽ phá sản.

Temasek chính phủ Singapore bỏ phần vốn còn lại do họ thấy thị trường BĐS thế giới đang xấu thì giá nhân công cao đưa Singapore sẽ rất rẻ, giá cần cẩu giá rẻ. Thời gian thu hồi vốn của dự án lúc đầu dự tính 10 năm. Sau này quay trở lại thì thực tế đã hoạt động thì nghe rằng thời gian thu hồi vốn nhanh. Người Sing được vào chơi nếu chứng minh thu nhập… Như vậy, ở giai đoạn trước nếu tính PE, PB và khả năng lỗ thì không ai đầu tư. Nhưng với góc nhìn của nhà đầu tư chuyên nghiệp lại khác.

Nhà đầu tư nhỏ lẻ nên đưa vào quỹ đầu tư tốt. Còn không thì nên đầu tư vào DN hoạt động ổn định rồi.

- Ông Nguyễn Duy Hưng: Câu chuyện của buổi talk hôm nay, chúng ta chỉ muốn nói về CBTT và CBTT có 3 vấn đề. Thứ nhất là phát hiện được vấn đề công bố là chính xác. Thứ hai là thời điểm và cách công bố thông tin. Và thứ ba là đặt câu hỏi cho ông Trần Văn Dũng về chế tài đối với các DN CBTT để đạt mục tiêu họ mong muốn. Làm sao để nội dung CBTT là chính xác nhất. Còn chúng tôi là những người tham gia để góp ý làm sao để việc CBTT là minh bạch.

Với kiểm toán, nhiều đơn vị phải đánh đổi 2 thứ, thứ nhất là uy tín và thứ hai là mất khách hàng, đó là lý do chọn Big4 quan trọng. Vì Big4 không có quyền mất uy tín. Còn cái thứ hai phải chọn là mất khách hàng. Và rõ ràng đối với những DN lớn, họ sẽ không quan tâm đến giá kiểm toán. Còn nếu người ta không được Big4 kiểm toàn thì có nghĩa là họ bị Big4 từ chối kiểm toán. Nên cho dù UBCKNN đưa yếu tố này vào không phải là điều quá khó cho doanh nghiệp VN30.

Mặt khác trên khía cạnh, những người cung cấp thông tin tới nhà đầu tư, hãy khiến nhà đầu tư hiểu rõ đúng bản chất của DN, tất cả những thông tin không được công bố đầy đủ thì UBCKNN cũng sẽ phải có ý kiến yêu cầu công bố.
Tôi đã đi đàm phán rất nhiều trong trường hợp và tất cả đều không được CBTT ra ngoài. Trách nhiệm của tổ chức trung gian là làm sao nhà đầu tư hiểu đúng nhất về DN, còn quyết định là phụ thuộc nhà đầu tư. Quyền lớn nhất là nhà đầu tư. Khi nhà đầu tư quay mặt với DN thì không còn ý nghĩa khi DN tham gia TTCK nữa.

Các quỹ, cổ đông chiến lược của DN tham gia với mức giá này, giá kia chỉ mang yếu tố tham khảo, và nhà đầu tư phải tự quyết định để bảo về mình. Chúng tôi ngồi đây làm hội thảo hôm nay hay anh Dũng là Chủ tịch UBCKNN cũng chỉ có thể làm sao để các thông tin đưa đến nhà đầu tư là chính xác nhất, minh bạch nhất có thể. Xin cảm ơn 4 diễn giả chất lượng ngày hôm nay.

NDH Talk là buổi talkshow được tổ chức định kỳ hàng quý với nội dung xoay quanh những vấn đề thời sự được giới kinh doanh quan tâm, ảnh hưởng lớn đến thị trường tài chính - chứng khoán.

Chương trình được điều phối bởi ông Nguyễn Duy Hưng - Chủ tịch HĐQT, TGĐ CTCP Chứng khoán SSI (SSI), Chủ tịch HĐQT The PAN Group. Khách mời tham gia là nhà quản lý, doanh nhân, chuyên gia... hàng đầu, có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực liên quan.

NDH Talk được truyền thông rộng rãi trên báo chí, các diễn đàn và mạng xã hội Facebook. Livestreaming các chương trình thu hút hàng chục nghìn lượt xem và hàng trăm comment tương tác.

Người Đồng Hành

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo