Thứ ba, 4/8/2020 | 22:02 GMT+7

Contact

Điện thoại:
(+84) 243 9412852

Email:
info@ndh.vn

Người Đồng Hành là Chuyên trang Thông tin Tài chính của Tạp chí điện tử Nhịp Sống Số theo Giấy phép số 197/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 19/04/2016. Ghi rõ nguồn “Người Đồng Hành” khi phát hành lại thông tin từ cổng thông tin này.

20 năm thị trường chứng khoán Việt Nam 25 năm Việt - Mỹ Kết quả kinh doanh quý II/2020 EVFTA có hiệu lực Thành phố phía Đông
Thứ năm, 5/12/2019, 14:36 (GMT+7)

SSI Research: Mảng bảo hiểm nhân thọ của Bảo Việt phục hồi, phi nhân thọ sẽ cải thiện trong quý IV

Trâm Anh (Theo SSI Research) Thứ năm, 5/12/2019, 14:36 (GMT+7)

Trung tâm Phân tích Chứng khoán SSI (HoSE: SSI) -  SSI Research vừa có báo cáo cập nhật về Tập đoàn Bảo Việt (HoSE: BVH). Bảo Việt ghi nhận công bố tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc và lợi nhuận trước thuế đạt lần lượt 9.277 tỷ đồng và 439 tỷ đồng trong quý III, tăng lần lượt 13% và 226% so với cùng kỳ năm trước.

Lũy kế 9 tháng, Bảo Việt đạt 25.992 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm gốc, tăng 14% và 1.313 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế cao hơn 23% so với cùng kỳ 2018, tương đương  85% kế hoạch năm. Kết quả này chủ yếu do lợi nhuận kế toán từ mảng bảo hiểm nhân thọ đã phục hồi với mức tăng 24% và kiểm soát chi phí trong 9 tháng đầu năm. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý chỉ tăng 0,8%.

Lợi nhuận kế toán mảng bảo hiểm nhân thọ phục hồi

9 tháng, Bảo Việt ghi nhận 18.197 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ, tăng 17%. Mặc dù tốc độ tăng trưởng doanh thu phí có chậm lại so với tốc độ tăng trưởng bình quân 3 năm gần đây (28,3%), Bảo Việt vẫn giữ vị trí số 1 trên thị trường bảo hiểm nhân thọ với 24% thị phần. Hiện tại, Bảo Việt dẫn đầu thị trường về bảo hiểm liên kết chung (UVL) với 29% thị phần, và đứng thứ 2 về bảo hiểm hỗn hợp với 23% thị phần.

Bảo hiểm nhân thọ tiếp tục là động lực tăng trưởng trong kết quả kinh doanh 3 quý của Bảo Việt, với lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt 986 tỷ đồng, tăng 24%. Mức tăng này chủ yếu xuất phát từ sự giảm tốc của chi phí dự phòng toán học, giảm 4% nhờ những yếu tố. 

Doanh thu phí khai thác mới tăng trưởng với tốc độ chậm hơn ở mức 9% thấp hơn 14% so với năm 2018.  Bảo Việt áp dụng lãi suất trích lập dự phòng bằng năm trước (3,45%), trong khi điều chỉnh giảm 56 điểm cơ bản vào năm 2018 từ mức 4,01% năm 2017. Theo kết quả phân tích độ nhạy với lãi suất của Bảo Việt vào cuối 2018, lãi suất chiết khấu giảm 25 điểm cơ bản sẽ khiến trách nhiệm bảo hiểm tăng 1.137 tỷ đồng. Điều này cũng có thể hiểu là nếu lãi suất chiết khấu giảm 25 điểm cơ bản, số dư cuối kỳ của dự phòng có thể tăng thêm khoảng 1.137 tỷ đồng.

Nguồn: SSI Research.

Nguồn: SSI Research.

Danh mục sản phẩm được tái cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng những sản phẩm có cách tính dự phòng toán học ít nhạy cảm với lãi suất hơn, cụ thể là các sản phẩm bảo hiểm liên kết chung (UVL). Tính đến tháng 9, doanh thu phí bảo hiểm hỗn hợp giảm 9,1% so với cùng kỳ năm trước, trong khi doanh thu phí UVL tăng 24,5% với việc ra mắt sản phẩm mới là An Phát Cát Tường. Tỷ trọng doanh thu phí UVL trong tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng lên 60% so với mức 48% trong tháng 9/2018.

Sự khác biệt về mức độ nhạy cảm với lãi suất trong cách tính dự phòng toán học xuất phát từ đặc điểm của hai sản phẩm bảo hiểm. Đối với sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp, toàn bộ doanh thu phí bảo hiểm được tích lũy trong tài khoản để thanh toán cho các nghĩa vụ trong tương lai.

Chi phí dự phòng toán học trong trường hợp này được định nghĩa là dự phòng rủi ro bảo hiểm và được tính bằng chênh lệch giữa giá trị hiện tại của các khoản bảo hiểm phải trả trong tương lai và giá trị hiện tại của phí bảo hiểm thuần được điều chỉnh theo phương pháp Zilmer đối với các khoản phải thu phí bảo hiểm trong tương lai.Đối với các sản phẩm UVL, phí bảo hiểm do chủ hợp đồng đóng được chia thành hai phần: một phần chi trả bảo hiểm nhân thọ (phần có tính chất bảo vệ truyền thống) và một phần khác để tiết kiệm và đầu tư (phần liên kết chung). Do đó, dự phòng toán học cho UVL cũng bao gồm hai phần: dự phòng rủi ro bảo hiểm và dự phòng nghiệp vụ đối với phần liên kết chung UVL.

Dự phòng rủi ro bảo hiểm được tính tương tự như đối với sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp, trong khi dự phòng đối với phần liên kết chung UVL là tổng giá trị hoàn lại của các hợp đồng bảo hiểm liên kết chung hoặc tổng giá trị tài khoản của các hợp đồng bảo hiểm liên kết chung.

Với cùng số tiền phí bảo hiểm được đóng cho một sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp so với một sản phẩm UVL, việc chia phí bảo hiểm thành hai phần khiến dự phòng toán học cho các sản phẩm UVL ít nhạy cảm hơn với biến động của lãi suất chiết khấu so với các sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp.

Theo quan điểm của SSI Research, ngoài câu chuyện dự phòng, việc chuyển đổi sang các sản phẩm UVL phù hợp với mức độ nhận thức hiện tại của người dân về bảo hiểm ở Việt Nam, khách hàng chủ yếu tập trung vào lợi ích từ đầu tư hơn là quyền lợi bảo vệ khi rủi ro xảy ra.

Kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ sẽ cải thiện từ quý IV

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ gặp khó khăn trong nửa đầu năm 2019 do sự tăng trưởng mạnh trong năm 2018 nhưng đã bắt đầu có sự phục hồi trong quý III. 

Mảng bảo hiểm phi nhân thọ đang phải giải quyết hệ quả của quá trình tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2018, do các khoản chi phí bồi thường thường có độ trễ 6-9 tháng. Điều này cũng khớp với nhận định của SSI Research, trong đó doanh thu phí bảo hiểm tăng chậm lại trong khi chi phí bồi thường lại tăng mạnh.

Tính đến tháng 9/2019, doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, đạt 7.794 tỷ đồng khi công ty chủ động rà soát chặt chẽ hợp đồng và thắt chặt các điều khoản cấp đơn bảo hiểm để đảm bảo hiệu quả hoạt động bảo hiểm. Trên thực tế, các sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới (sản phẩm có tỷ lệ bồi thường cao nhất) ghi nhận mức giảm 6,8% so với cùng kỳ năm trước về doanh thu phí.

Các khoản bồi thường cho các hợp đồng ký vào nửa cuối năm 2018 vẫn còn phát sinh nhiều trong nửa đầu 2019, khiến chi phí bồi thường tăng lên 19,1% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên điểm sáng là mức tăng chi phí bồi thường có dấu hiệu chững lại trong quý III sau khi tăng trong 6 tháng (24,4% so với cùng kỳ 2018). SSI Research cho rằng chi phí bồi thường liên quan đến các hợp đồng cũ trong năm 2018 băt đầu có dấu hiệu giảm xuống, do đó tỷ lệ bồi thường cao có thể không còn tiếp diễn trong quý IV. Tỷ lệ bồi thường trong quý III giảm xuống còn 53% (so với mức 57% trong quý I và 59% trong quý II). 

1-2-1-png-1664-1575527239.png

SSI Research tin rằng giai đoạn từ quý III/2018 đến quý III/2019 là vùng đáy hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Bảo Việt. SSI Research cho rằng kết quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ sẽ được cải thiện, bắt đầu từ quý này.

SSI Research chỉ có một mối quan ngại nhỏ do Bảo Việt phải sử dụng đến dự phòng dao động lớn trong khoảng thời gian từ quý IV/2017 đến quý III/2019, khiến số dư dự phòng dao động lớn giảm từ 176 tỷ đồng trong năm 2016 về 0 đồng vào cuối quý III/2019. Tuy nhiên, việc trích lập chi phí dự phòng dao động lớn không phải là quá khó khăn với tỷ lệ trích lập là 2% doanh thu phí bảo hiểm giữ lại hàng năm. Khi hoạt động của công ty phục hồi, dự phòng dao động lớn sẽ dần được tích lũy ở mức hợp lý hơn.

Việc giải quyết vấn đề chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản có và nợ phải trả là một bài toán khó

Đối với hoạt động đầu tư tài chính, SSI Research phân tích trên số liệu hợp nhất. Tính đến 30/9, tổng danh mục đầu tư hợp nhất đạt 101.532 tỷ đồng, trong đó phần lớn là danh mục đầu tư của Bảo Việt Nhân thọ với 90.695 tỷ đồng (trong đó khoảng 79% được ủy thác qua Công ty TNHH quản lý quỹ Bảo Việt (BVF)); danh mục của BVGI đạt 7.410 tỷ đồng. Danh mục hiện tại chủ yếu được phân bổ vào tiền gửi (61%) và trái phiếu (31,3%). Tỷ suất sinh lời của hoạt động đầu tư (không tính các khoản bán để hiện thực hóa lợi nhuận) được duy trì khoảng 5,5-5,7%, tuy nhiên chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản có và nợ phải trả đang tăng lên. 

Bảo Việt đang phải cân đối giữa việc thu hẹp mức chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản có và nợ phải trả với việc duy trì tỷ suất sinh lời ổn định từ hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, hiện nay có một nghịch lý tồn tại là những tài sản dài hạn đang cho lợi suất thấp hơn nhiều so với tài sản ngắn hạn. Do thanh khoản dồi dào, lợi suất trái phiếu chính phù kỳ hạn 5 năm và 10 năm lần lượt là 2,383% và 3,664%. Trong khi đó lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng nằm trong khoảng từ 6,8% đến 7,6%. 

Để giảm mức chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản có và nợ phải trả, Bảo Việt sẽ phải hy sinh tỷ suất sinh lời và đầu tư vào trái phiếu chính phủ với lãi suất thấp hơn nhiều. Ngược lại, để duy trì khả năng sinh lời của danh mục đầu tư, Bảo Việt chuyển danh mục đầu tư sang tiền gửi ngân hàng. Do đó, việc giải quyết bài toán chênh lệch kỳ hạn thực sự là một nhiệm vụ khó khăn trong thời gian tới.

Với độ tuổi của người được bảo hiểm trong các hợp đồng UVL trên thị trường đang nằm trong khoảng từ 30-39 tuổi, chúng tôi ước tính thời hạn bình quân các hợp đồng bảo hiểm của Bảo Việt nằm trong khoảng 18-20 năm. Trong khi đó, với danh mục đầu tư bao gồm 61% tiền gửi và 31,3% trái phiếu, kỳ hạn tối đa chỉ có thể là 10-12 năm.

 

Đăng nhập bằng

Hoặc nhập

Thông báo

Thông báo

Hãy chọn 1 mục trước khi biểu quyết

Thông báo