Vui lòng chờ trong giây lát

Tọa đàm trực tuyến: Tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn

Sáng nay, 15/8, Cổng TTĐT Chính phủ tổ chức tọa đàm trực tuyến “Đáp ứng tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn” với các khách mời đến từ Bộ NNPTNT, Hội Nông dân Việt Nam, NHNN, Ngân hàng NNPTNT.

Những năm gần đây, thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ, hệ thống Ngân hàng đã triển khai nhiều chính sách ưu tiên nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp nông thôn.

Chỉ tính riêng từ năm 2008 đến nay, hàng năm tăng trưởng tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn tăng trung bình khoảng 20%. 

Tuy nhiên, do năng lực sản xuất lĩnh vực nông nghiệp nông thôn còn rất lớn nên chính sách tín dụng cho lĩnh vực này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu và chưa phát huy hiệu quả như mong đợi đòi hỏi sự quan tâm tháo gỡ cả về cơ chế, chính sách và hướng dẫn triển khai.

Đây chính là nội dung làm chủ đề cho chương trình tọa đàm trực tuyến hôm nay là “Đáp ứng nhu cầu tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn”.

Các vị khách mời tham dự tọa đàm:

- Ông Vũ Văn Tám, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

- Ông Lại Xuân Môn, Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.

- Ông Nguyễn Viết Mạnh, Vụ trưởng Vụ Tín dụng Ngân hàng Nhà nước

- Ông Nguyễn Tiến Đông, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank)

BTV: Nhiều chuyên gia cho rằng  Nghị định số 41 ra đời và đi vào cuộc sống 3 năm qua đã góp phần quan trọng vào những thành tựu đầy ý nghĩa của NN Việt Nam trong giai đoạn kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, thưa ông, ông có nhất trí với nhận định này không?

Ông Vũ Văn Tám: Tôi hoàn toàn nhất trí bởi, tôi cho rằng, Nghị định 41 của Chính phủ ra đời đúng lúc và thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nhằm tháo gỡ khó khăn về  thiếu vốn hiện nay trong sản xuất, đặc biệt đối với các lĩnh vực nông nghiệp. Đồng thời Nghị định 41 quy định về đối tượng cũng như các lĩnh vực có thể nói là rất rộng được vay vốn cũng như đưa ra cơ chế xử lý rủi ro, tạo thuận lợi cho người nông dân và các tổ chức tín dụng .

Image
Ông Vũ Văn Tám

Ông Lại Xuân Môn: Gần đây, Đảng, Nhà nước có nhiều chủ trương, cơ chế chính sách về tín dụng, trong đó có Nghị định 41. Có thể nói gần 10 năm trở lại đây, nông nghiệp có những bước phát triển đột phá, nhưng thực ra cũng ít người chú ý về nông nghiệp. Gần đây phải nói rằng do suy thoái tài chính toàn cầu, nên người ta mới chú ý nhiều đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn hơn, khi công nghiệp- dịch vụ phát triển mạnh thì ngành này ít được chú ý.

Cho nên, đầu tư tín dụng nhất là Nghị định 41 cho nông dân vay vốn, chúng tôi cũng đã tham khảo số liệu thì được biết cũng không phải nhiều. Đến nay, dư nợ của ngân hàng thông qua tín dụng Nghị định 41 có khoảng trên 300.000 tỷ đồng. Nên, đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn như vậy còn nhỏ.

Image
Ông Lại Xuân Môn

Ông Nguyễn Viết Mạnh: Thứ nhất, tôi thấy Nghị định 41 tác động tích cực đối với nền nông nghiệp là nhận định xác đáng. Trung ương Đảng có Nghị quyết 26 về chính sách cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn mà chúng ta gọi là tam nông.

Có thể anh Lại Xuân Môn cập nhật số liệu chưa kịp thời. Bắt đầu khi có Nghị định 41 thì tín dụng cho nông nghiệp là 292.000 tỷ đồng, cho đến giờ, sau 3 năm thì là 622.000 tỷ đồng, tăng 2,1 lần.

Đặc biệt, qua suy thoái tài chính toàn cầu từ 2008 đến nay, nông nghiệp là cứu cánh, giúp ổn định xã hội, đời sống bà con cũng tăng lên, đây là điểm rất rõ nét. Tôi cho rằng, Nghị định 41 có tác động tích cực.

Nhiều lần, tôi cùng các đoàn đi vào các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long thì thấy rằng, Nghị định 41 có tác động rất lớn. Trước khi có Nghị định 41, tín dụng cho vay không có tài sản đảm bảo chỉ là 10 triệu đổ xuống đối với nông dân, đối với trang trại là 50 triệu đồng, hợp tác xã là 100 triệu đồng. Nghị định đã nới điều kiện rất quan trọng, bởi bà con nông dân có tài sản thế chấp để vay vốn tín dụng thương mại  rất khó, ngân hàng cho vay phải có điều kiện tiên quyết là phải thu hồi vốn, do vậy phải có sự đảm bảo. Nghị định 41 đã giải tỏa, tạo điều kiện cho bà con nâng mức vay không tài sản đảm bảo từ 10 lên 50 triệu đồng, đối với trang trại là 50 lên 200 triệu đồng, hợp tác xã là từ 100 lên 500 triệu đồng, giải quyết lượng vốn lớn, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận vốn tín dụng.

Vốn tín dụng này chiếm trong tổng tín dụng của toàn ngành khoảng 18-19%, nếu cộng cả dư nợ của Ngân hàng Chính sách thì chiếm khoảng 20-22%, tương ứng với mức đóng góp cho GDP cả nước của ngành nông nghiệp.

Image
Ông Nguyễn Viết Mạnh

BTV: Là ngân hàng có dư nợ cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ lệ gần 70% tổng dư nợ, ông có thể chia sẻ kinh nghiệm thành công  khi hoạt động ở thị trường nông nghiệp, nông thôn thời gian qua?

Ông Nguyễn Tiến Đông: Đối với Agribank thì ngay cái tên đã nói rõ mục tiêu của chúng tôi là phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn.

Những năm qua, chúng tôi tập trung đưa hoạt động của mình theo hướng đó. Hiện nay, tổng dư nợ của Agribank khoảng 560.000 tỷ đồng, trong đó có khoảng 70% dư nợ được đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Về chất lượng tín dụng cho vay, nhất là cho vay theo Nghị định 41 được đảm bảo, nợ xấu trong lĩnh vực này luôn dưới 3%. Có thể nói Nghị định 41 ra đời đã tạo điều kiện thông thoáng cho sản xuất trang trại, kinh doanh.

Về kinh nghiệm thành công khi hoạt động ở thị trường nông nghiệp, nông thôn thời gian qua, hiện chúng tôi có 2000 chi nhánh, phòng giao dịch, phòng giao dịch liên xã. Trong tổng 4 vạn cán bộ có 30%, tương đương khoảng 12.000 cán bộ làm tín dụng.

Đối với anh em làm tín dụng nông thôn, quan trọng nhất là chịu thương, chịu khó, sát dân, gần dân. Nhờ đó, chúng tôi đã gắn các hoạt động sản xuất, mua bán tại chỗ, đảm bảo đồng vốn sử dụng đúng mục đích, tạo việc làm, thu nhập cho nông dân.

Image
Ông Nguyễn Tiến Đông

BTV: Theo số liệu điều tra tiếp cận nguồn lực hộ nông thôn VN (VARHS) 2006 - 2012, có 50% số hộ nông dân được khảo sát có vay nợ, 60% trong số đó ghi nhận có vay của ngân hàng. Tuy nhiên, quy mô vay rất thấp, chỉ chiếm 13,6% trong tổng lượng vay. Các vị khách mời nhìn nhận thế nào về con số khảo sát này? Phải chăng vẫn còn một khoảng cách khá lớn giữa chính sách và thực tiễn?

Ông Nguyễn Viết Mạnh: Kết quả điều tra mới chỉ phản ảnh một khía cạnh, còn nếu nói về nông nghiệp, nông thôn, nông dân thì rộng lớn hơn. Bên cạnh người nông dân chuyên sản xuất thì còn đối tượng chế biến, tiêu thụ…. Bên cạnh đó, nông dân Việt Nam thường cân đo, đong đếm trước khi vay ngân hàng, sẽ làm gì, sản xuất như thế nào để có thể hoàn trả được nợ ngân hàng, vì vậy  tỷ lệ nợ xấu của nông dân thấp nhất trong các nhóm vay. Nếu một người nông dân vay 50 triệu đồng thì họ sẽ tính toán để sản xuất như thế nào để trả được nợ. Còn điều kiện tiếp cận vốn cũng có rồi,  Agribank còn có hình thức cho vay theo số rất thuận tiện, điều kiện về tài sản thế chấp cũng cởi mở hơn.

BTV: Vậy theo ông Lại Xuân Môn vấn đề nằm ở đâu khi nông dân ngại vay vốn?

Ông Lại Xuân Môn: Sau 2 tháng Nghị định 41 ra đời, Hội Nông dân đã ký thỏa thuận với NHNN, sau 4 tháng ký thỏa thuận với Agribank và đến giờ này, tín dụng dành cho nông dân thông qua Hôi Nông dân mới là 13.000 tỷ đồng, trong khi hộ nông dân trong cả nước là 14 triệu hộ, như vậy chưa đến 4% số hộ nông dân được vay vốn trong khi bình thường khoảng 50% hoặc hơn có nhu cầu vay vốn.

Ông Nguyễn Viết Mạnh: Tôi xin bổ sung, con số khảo sát 50% nông dân có vay vốn trong đó 60% có vay vốn NH, nhưng tổng ượng vay chỉ chiếm 13,6%. Điều đầu tiên, đối với tín dụng ngân hàng là phải có địa chỉ, mục tiêu cụ thể, và phải tính đến tập quán của người dân. Cũng như bà nội trợ ở nhà, ông chồng thấy không có việc gì nhưng thực ra là làm toàn việc không tên thì nhu cầu chi tiêu của hộ nông dân cũng vậy có những việc không đưa vào đối tượng vay được, thu nhập thì theo thời vụ nhưng chi tiêu theo hàng ngày và những việc lặt vặt không thể đến ngân hàng vay được, vì vậy xuất hiện thói quen vay lãi ngoài, vừa quen, vừa kịp thời. Vì vậy, đối tượng vay không rõ ràng cụ thể thì vốn tín dụng rất khó vào.

Ông Nguyễn Tiến Đông: Agribank ngoài  ký kết cấp vốn tín dụng qua Hội Nông dân, còn có ký kết với Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh… thì qua tổng kết cho thấy vay vốn qua tổ nhóm trung gian chỉ chiếm khoảng 17% còn lại là cán bộ tín dụng trực tiếp đến cơ sở, đến từng thôn bản. Chúng tôi hiện có 12.000 cán bộ tín dụng. Còn vay từng  khoản nhỏ thì ngân hàng ủy thác cấp hội  một số khâu trong quá trình cho vay. Nếu theo số liệu điều tra như câu hỏi đưa ra thì tôi thấy số liệu này không ổn vì chúng tôi cho vay qua cấp hội là 30.000-40.000 tỷ đồng còn cho vay nông thôn là 368.000 tỷ đồng. Còn về ý kiến ông Môn thì Hội Nông dân mới chỉ là một cấp hội, một kênh dẫn vốn.

BTV: Có một thực tế là các tổ chức tín dụng về nông thôn thường thích cho doanh nghiệp vay hơn hộ nông dân, ông suy nghĩ thế nào về thực trạng này? Phải chăng các chính sách của chúng ta chưa khuyến khích được các tổ chức tín dụng cho vay đến các hộ nông dân?

Ông Nguyễn Tiến Đông: Về tín dụng cho nông nghiệp nông thôn, cho vay món nhỏ lẻ thì chi phí hoạt động cao. Thứ 2, đối tượng vay nông nghiệp nông thôn là tác động nhiều bởi điều kiện tự nhiên, rủi ro không chỉ đơn thuần từ trình độ năng lực quản lý của chính hộ vay, mà còn từ khách quan, thiên nhiên như hạn hán thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh… người nông dân là đối tượng vay bị tổn tương lớn nhất. Chính vì vậy, món vay nhỏ, chi phí cao, rủi ro lớn, nên nếu không có lượng chi nhánh gần dân, sát dân, không đủ lượng cán bộ, thì muốn cho vay tới hộ dân thì cũng không cho vay được, vì tín dụng chủ yếu là lòng tin, phải hiểu, phải tin thì mới đưa tín dụng ra được, chứ không hoàn toàn là vấn đề thế chấp, thế chấp chỉ là điều kiện cần, không phải là điều kiện đủ.

Chính vì vậy, ở đây, một số các NH thường cho vay đoạn giữa vào cuối là thu mua và chế biến sản phẩm.

BTV: Vậy cho vay doanh nghiệp nhiều hơn là sự thật?

Ông Nguyễn Viết Mạnh: Đối với hệ thống ngân hàng thì Agribank và Ngân hàng Chính sách là 2 ngân hàng có mạng lưới rộng lớn nhất, đến tận cấp xã, liên xã. Đối với các tổ chức tín dụng khác thì họ ít chi nhánh. Nhiều tổ chức tín dụng hiện cũng chỉ có 20-30 chi nhánh.

Đối với hệ thống ngân hàng nông nghiệp và chính sách, những năm qua đã làm rất tốt về cho vay nông nghiệp, phù hợp với mạng lưới và nhiệm vụ của ngân hàng này.

Về kết quả tăng trưởng nông nghiệp trong những năm qua, nếu không có vốn thì làm sao có kết quả như vậy, do vậy tôi cho rằng, việc mỗi ngân hàng có chức năng khác nhau, điều kiện kinh doanh, phục vụ khác nhau, Agribank và NHCS vừa rồi làm rất tốt. Ngoài ra, cũng có một số ngân hàng cũng có điều kiện kinh doanh như Lienvietpostbank cũng có khoảng 60% cho vay nông nghiệp hay Ngân hàng Mekong, NH Công Thương cũng triển khai mạnh mẽ đến vùng nông nghiệp, nông thôn.

BTV: Chúng ta vừa nói đến việc khó tiếp cận vốn tín dụng của các hộ nông dân, tuy nhiên theo nhiều chuyên gia thì ngay cả các doanh nghiệp cũng gặp khó khăn về tiếp cận vốn. Ông suy nghĩ thế nào trước hiện tượng nhiều thương lái nước ngoài đến tận hộ thu mua nông sản trong khi các doanh nghiệp nông nghiệp trong nước thì hoạt động cầm chừng do thiếu vốn?

Ông Vũ Văn Tám: Thời gian qua, báo chí phản ánh nhiều về hiện tượng này và đây là hiện tượng có thật. Thực tế hiện nay, người nông dân rất cần hỗ trợ về tín dụng và doanh nghiệp cũng vậy.

Tuy nhiên bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước, thì vấn đề quan trọng là doanh nghiệp phải nắm bắt, xác định thị trường như thế nào để đầu tư sản xuất, kinh doanh phù hợp.

Tiếc rằng đa số doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp của chúng ta chưa đủ khả năng, tận dụng cơ hội của thị trường để tổ chức liên kết, đồng hành với nông dân sản xuất. Tôi nghĩ rằng, trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay ngoài vấn đề vốn, kỹ thuật, thì vấn đề kinh doanh sản phẩm, bán hàng là rất quan trọng.

Thực tế nông sản của chúng ta xuất thô nhiều, điều này chỉ phù hợp với thị trường gần như Trung Quốc; khả năng tiếp cận thị trường ở xa, tiềm năng lớn còn hạn chế. Doanh ngiệp của chúng ta chưa chủ động tiếp cận thị trường. Mặt khác còn có những rào cản kỹ thuật ở các thị trường, gây khó khăn cho việc thâm nhập của nông sản Việt. Thực tế, kinh doanh nông nghiệp là lĩnh vực ít được đầu tư nhất.

Tuy nhiên, chúng ta cũng phải chia sẻ với doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp nông nghiệp còn nhỏ. Một thời gian dài chúng ta tổ chức theo các khâu sản xuất, trong đó dịch vụ chỉ là khâu đầu vào, hoặc đầu ra. Cho nên ít doanh nghiệp có đủ năng lực tổ chức toàn bộ quy trình sản xuất từ đầu vào đến đầu ra cho sản phẩm. Bây giờ chúng ta đã nhận thức và vấn đề này sẽ được đưa vào đề án tái cơ cấu nông nghiệp.

BTV:  Làm thế nào để các chính sách hỗ trợ về tín dụng của chúng ta mang tính dài hơi, bền vững hơn, nhất là đối với một số ngành sản xuất quan trọng như lúa gạo, cà phê hay cá tra cá basa, thưa các vị khách mời?

Ông Nguyễn Viết Mạnh: Chính sách tín dụng thông thường nhất quán và có luôn có nguyên tắc nhất định trong thu hồi vốn. Thời gian vừa qua, chúng ta cứ sản xuất theo kiểu mạnh ai nấy làm, không có liên kết, vì vậy, đã phải xây dựng Đề án 80 về liên kết các nhà (nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông). Nếu chúng ta làm tốt từ cung cấp đầu vào, hỗ trợ sản xuất, đầu ra, thị trường, thị trường cần bao nhiêu thì chúng ta cung cấp bấy nhiêu. Nhưng hiện tại thì nếu có 1 ngành tốt thì chúng ta đổ xô vào, thị trường cần 10 lại sản xuất 15 dư 5 thì cạnh tranh không lành mạnh, không bán được hàng thì dẫn đến nợ xấu. Vì vậy, để có  chính sách tín dụng thì phải có quy hoạch từng nhóm ngành, từng vùng sản xuất cụ thể, có sự liên kết thì khi đó tín dụng sẽ bền vững, thậm chí không cần thế chấp cho vay.

Ông Lại Xuân Môn: Về rào cản tiếp cận vốn của nông dân hiện  nay thì thứ nhất là rủi ro nông nghiệp rất lớn, tác động, ảnh hưởng của ngoại cảnh đến 50-60%. Thứ hai là quy mô cho vay nhỏ, lẻ. Thứ ba là dù điều kiện vay vốn cho nông dân thậm chí không cần thế chấp nhưng nông dân vẫn phải có sổ đỏ mới vay được. Về DN thì lĩnh vực nông nghiệp không hấp dẫn, lợi nhuận ít, rủi ro cao. Thế nên họ cũng ít đầu tư vào nông nghiệp, do vậy nông dân tiếp tục khó vay vốn.

Ông Vũ Văn Tám:  Để đánh giá , đưa ra phương hướng để cấp vốn tín dụng cho nông nghiệp bền vững thì cần phải có đánh giá đầy đủ hơn về Nghị định 41 và tổng thể tín dụng về nông dân, nông thôn.

BTV: Ông có thể chia sẻ thông tin về kết quả triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp thời gian qua và hướng mở rộng trong thời gian tới?

Ông Vũ Văn Tám: Phải nói rằng, chính sách thí điểm bảo hiểm trong nông nghiệp mà Chính phủ giao cho Bộ Tài chính phối hợp với Bộ NNPTNT triển khai thí điểm vừa qua, đối với 20 tỉnh, cũng như 7 nhóm sản phẩm nông nghiệp kể cả trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước rất đúng lúc, đặc biệt trong điều kiện của chúng ta rủi ro trong sản xuất nông nghiệp về thiên tai, dịch bệnh và thị trường.

Cho nên việc Chính phủ  ra chủ trương chính sách thí điểm bảo hiểm đối với một số sản phẩm chủ yếu trong nông nghiệp trong thời gian qua là chính sách vì dân, đáp ứng được nguyện vọng của người dân.

Qua mấy năm triển khai, Bộ Tài chính chủ trì, cũng đã có sơ bộ đánh giá, chúng tôi thấy rằng có kết quả tốt, giúp người nông dân bớt thiệt thòi trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Tôi cũng có số liệu báo cáo là trong mấy năm vừa qua,  giá trị được bảo hiểm là trên 200.000 tỷ đồng. Đây cũng là số lượng lớn,  đồng thời thông qua đó, rủi ro trong nông nghiệp đã được hỗ trợ kịp thời, đặc biệt là đối với các hộ nghèo, cận nghèo theo Quyết định 35 của Thủ tướng Chính phủ.

Tất nhiên, đây là chính sách rất mới và cũng là khó, khó cả với nông dân đầu tiên được tiếp cận. Thứ 2, đối với tổ chức bảo hiểm cũng là mới. Đối với cơ quan quản lý nhà nước cũng vậy, nên không tránh được bất cập. Trong tất cả lĩnh vực và các đối tượng thì triển khai thí điểm tương đối thuận lợi. Riêng đối với bảo hiểm tôm nước lợ, có thể nói, hiện nay là vấn đề rất nóng.

Vừa qua, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính phối hợp với các địa phương tháo gỡ, có định hướng là tiếp tục thực hiện bảo hiểm tôm nuôi. Tôi cho rằng, đây cũng là giải pháp kịp thời, hy vọng trong thời gian tới, hết năm 2013 theo chỉ đạo của Chính phủ thì chúng ta sẽ kết thúc thời gian bảo hiểm và đến 6/2014, chúng ta sẽ tổng kết, để đánh giá và từ đó có giải pháp cho thời gian tới.

BTV: Ông có thể đánh giá về các  công ty tham gia bảo hiểm, người ta có mặn mà hay không?

Ông Nguyễn Viết Mạnh: Đây cũng là 1 vấn đề rất mới đối với các doanh nghiệp. Trước hết phải đánh giá cao các đơn vị, doanh nghiệp tham gia bảo hiểm, có tinh thần tích cực.

Nhưng vì rất mới nên về king nghiệm và tổ chức bộ máy, kiểm tra giám sát, về nông nghiệp nông thôn thì các doanh nghiệp này không hiểu nhiều lắm, nên trong quá trình triển khai, đa số những người được tham gia bảo hiểm là tốt, nhưng không ngoại trừ do sơ hở về cách thức quản lý, chưa có kinh nghiệm của doanh nghiệp bảo hiểm nên cũng có trường hợp bị lợi dụng.

BTV: Từ góc độ của Hội ND thì ông đánh giá thế nào về nhu cầu và triển vọng của loại hình bảo hiểm trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn? Nhân đây ông có kiến nghị gì để nhân rông mô hình bảo hiểm nông nghiệp trong thời gian tới?

Ông Lại Xuân Môn: Nghị quyết TW 7 về tam nông đã nêu rõ về tổ chức thí điểm bảo hiểm nông nghiệp để giúp nông dân yên tâm sản xuất. Có thể nói bà con rất phấn khởi.

Tuy nhiên đây là vấn đề mới và khó, nhưng dù khó đến mấy chúng ta vẫn phải làm. Bởi nếu không thì ai sẽ bám ruộng, ai sản xuất. Nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất rủi ro cao, 60% phụ thuộc ngoại cảnh như thời tiết, thiên tai, dịch bệnh; nhất là gần đây đang có xu hướng nông dân bỏ ruộng, trả ruộng…

Do vậy không chỉ có bảo hiểm nông nghiệp, khi chúng ta có điều kiện phải có cả bảo hiểm xã hội cho bà con nông dân. Đây là nguyện vọng tha thiết của bà con.

BTV: Là tổ chức tín dụng hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, Agribank chắc cũng gắp phải nhiều rủi ro về bảo toàn vốn, vậy ngân hàng đã xử lý vấn đề này thế nào? Từ thực tiễn hoạt động cho vay trong thời gian qua thì ông có kiến nghị gì về hoàn thiện khung pháp lý về  xử lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng cho nông nghiệp nông thôn?

Ông Nguyễn Tiến Đông: Để bảo toàn vốn, hạn chế rủi ro trong cho vay nông nghiệp, thời gian qua chúng tôi đã cử 7 đoàn cán bộ khảo sát tại khu vực đặc trưng của nông nghiệp Việt Nam để điều chỉnh cơ chế cho vay phù hợp.

Trước hết đơn giản hóa thủ tục tiếp cận vốn, cũng như cho vay phù hợp với điều kiện sản xuất của bà con. Ví dụ, chúng tôi cho vay theo niên vụ cây trồng; cho vay theo hạn mức tín dụng.

Về mặt thủ tục, chúng tôi sẽ cải cách, đơn giản hóa để người dân không phải mất thời gian làm đi làm lại các thủ tục.

Bên cạnh đó, quy trình cho vay rất chặt chẽ từ tiếp cận thẩm định, quản lý nợ vay của từng khoản vay; cơ chế minh bạch rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm để giáo dục ý thức của cán bộ ngân hàng tránh phiền hà cho dân khi vay vốn ngân hàng, từ đó cũng hạn chế được rủi ro.

Thứ ba về vấn đề rủi ro, nếu do khách quan thì quy chế của Chính phủ khi thiên tai, dịch bệnh diện rộng Chính phủ đã chỉ đạo các địa phương  khoanh nợ giãn nỡ, cho vay tiếp để tái tạo sản xuất, sau vài mùa vụ có khả năng trả nợ và ổn định cuộc sống.

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện Nghị định 41, những hộ nông dân ở khu vực giáp ranh ven đô thị không được vay theo quy định của Nghị định này. Hiện chúng tôi đang nghiên cứu, để cơ chế được lan tỏa đến những địa bàn không phải nông nghiệp theo Nghị định 41 nhưng nông dân vẫn được hỗ trợ như các xã.

BTV: Có một câu chuyện thực tế là ngân hàng ngại cho vay tới hộ nông thôn vì vốn giải ngân thì nhỏ mà chi phí giám sát thì lớn, trong khi về phía người nông dân thì do cơ chế, thủ tục cho vay phức tạp nên thay vì tới ngân hàng thì họ sẽ chạy sang vay hàng xóm. Điều này dẫn đến việc họ tìm đến tín dụng đen, vậy ngân hàng cần thay đổi thế nào để nong dân tìm đến ngân hang?

Ông Nguyễn Tiến Đông: Nông dân có những nhu cầu vay không tên, để chi dùng hàng ngày, nhỏ lẻ, không được hợp thức hóa đối với chính sách tín dụng. Vì vậy, người dân lại vay mượn nhau đơn giản hơn, lãi suất cao hơn, đây là tín dụng đen. Một số vùng thấy việc cho vay lãi suất cao hơn như vậy thì ham và hình thành hụi, họ,… Do đó, chúng tôi đã cử 7 đoàn cán bộ tiến hành nghiên cứu hộ nông dân để làm thế nào cho vay theo hạn mức tín dụng chi tiêu tổng hợp. Vì nông dân thu nhập theo hai vụ chính nhưng nhu cầu chi tiêu của họ cũng không khác gì thành thị nên cần phải có hạn mức tín dụng tổng hợp để vừa sức với nông dân.

Còn về tại sao cho vay nông dân đến 50 triệu đồng mà ngân hàng vẫn phải giữ sổ đỏ, thì đây là để tránh việc nhiều tổ chức tín dụng cho vay cùng 1 hộ mà quá khả năng trả nợ thì rủi ro cho hộ đó và cho ngân hàng.

Trong trường hợp có số đỏ thì UBND xã, phường có thể thể xác nhận diện tích đất sản xuất mà hộ nông dân đó đang sử dụng. Nhưng thực tế một số cấp ủy địa phương không quan tâm, không xác nhận để người dân có thể vay ngân hàng. Còn cho vay tiêu dùng, theo hạn mức đối với hộ nông dân thì chúng tôi đang triển khai thí điểm để phù hợp nhất, nếu khả năng người ta chỉ cần 30-50 triệu đồng mà cho vay đến hàng trăm triệu thì chính là làm hại họ.

BTV: Doanh nghiệp kinh doanh cà phê, thủy sản, xuất khẩu đang có nguy cơ phá sản vì nợ nần, không có khả năng trả nợ, nhiều doanh nghiệp đã viết thư đến chương trình. Theo nhiều chuyên gia trong ngành, tình hình này do 4 năm qua các doanh nghiệp đã chịu mức lãi suất vay khá cao cộng với rủi ro của thị trường. Vậy NHNN nhìn nhận thế nào về thực trạng này và ông có thể đưa ra giải pháp sơ bộ không?

Ông Nguyễn Viết Mạnh: Tôi muốn nói một chút đến bảo hiểm trong nông nghiệp, tác động rất tích cực với hoạt động sản xuất nông nghiệp.

Nếu không có bảo hiểm, có một thực trạng thế này, như ở vùng Sóc Trăng, nuôi tôm được 1 mùa rất tốt, nhưng mất 2 mùa liền, không trả nợ được cho ngân hàng, nợ xấu vẫn còn đó, bây giờ lại yêu cầu ngân hàng cho vay thì rất khó.

Nếu chúng ta bảo hiểm được thì bảo hiểm đó sẽ gánh giúp. Về tổng thể của xã hội, đằng nào cũng mất một khoản đó rồi, do thiên tai dịch bệnh. Nhưng, nếu có bảo hiểm thì sẽ duy trì được sản xuất, khác nhau ở chỗ đó, mặc dù tổng thể toàn xã hội thì đều bị mất khoản đó. Vấn đề ở đây cần phải nghiên cứu là ai sẽ chịu? Bảo hiểm là lấy của rất nhiều người để bảo hiểm cho 1 người. Tôi cho rằng, cái đó cần tổng kết sớm để triển khai nhân rộng. Đó cũng là một kênh để tín dụng ngân hàng vào dễ.

Còn nhiều người nói lãi suất cao thời gian qua, tôi cho rằng, xuất khẩu có 1 giai đoạn rất ngắn mua- bán. Khi bắt đầu tính tới 1 lô hàng xuất khẩu, đã phải tính hết giá thành, mua thế nào, lãi suất, xuất khẩu thế nào, chi phí quá trình xuất khẩu để ra lãi.

Lãi xuất cao thời điểm trước do mặt bằng đầu vào cao, thời điểm đó lạm phát cao nên lãi suất huy động của các NH với người dân có lúc lên tới 14-15%, thì cho vay 17,18-20% là bình thường lúc đó.

Trong thời gian vừa qua, NHNN đã điều hành chính sách cùng với tất cả các bộ, ban ngành, Chính phủ điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, đã giảm được lạm phát,  ổn định từ 2012 đến nay.

Bây giờ có doanh nghiệp được vay chỉ với lãi suất 6,5%-7%, còn bình thường mặt bằng là 10-11%. Tôi cho rằng đấy là nỗ lực, từ lúc chúng ta cho vay là 21-22%, bây giờ chỉ trong vòng hơn 1 năm kéo xuống 9-10%, tôi cho rằng đây là điểm hết sức tích cực.

Như chúng tôi cũng nói, cái quan trọng của sản xuất kinh doanh là cung và cầu phải cân bằng và chuỗi liên kết. Vừa rồi chúng tôi đi thăm huyện Ô môn, 1 hợp tác xã nuôi cá, người ta chỉ vay ít, nhưng người ta đã liên kết được với 1 cơ sở chế biến, cơ sở chế biến đó có khả năng lo đầu ra, như thế không cần phải thế chấp, tín dụng vẫn cho vay bình thường, người ta trả bình thường, đến đầu kia lại cho vay sản xuất.

Chuỗi sản xuất mang ý nghĩa cân bằng được thị trường. Tôi cho rằng, đấy là một điểm ổn định và vừa rồi, thương lái vào, tại sao thương lái không vào được lĩnh vực lúa gạo. Chúng ta có chính sách, còn những sản phẩm khác chưa có chính sách cho nên thương lái vào nhiều, quản lý thị trường của chúng ta cũng cần tính đến.

Vừa rồi truyền hình cũng nói nuôi cá tra xuất khẩu sang Trung Quốc, tự dưng họ dừng lại không nhập nữa. Đây cũng là vấn đề quản lý thị trường mà tôi cho rằng có những chính sách quản lý theo ngành và quy hoạch.

Vừa rồi chúng tôi đi thăm các địa phương, như hội nghị xúc tiến ở Tây Nguyên, đi các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long để tháo gỡ khó khăn, một mặt tích cực triển khai quy định giãn hoãn trả nợ, gia hạn tạm thời chưa thu lãi, xem xét những phương án tốt, vẫn có điều kiện kinh doanh tốt để có thể cho vay mới. Đây là những chính sách tôi cho rằng rất tích cực, từ xưa đến nay chưa bao giờ có những chính sách như thế.

Đối với cây cà phê thì Bộ NNPTNT cũng đã có quy hoạch, đề án để phát triển, vì rõ ràng cây cà phê là thế mạnh của Tây Nguyên, không chỉ phục vụ cho sản xuất kinh doanh của vùng đó mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Tôi cho rằng cái này cần phải được quy hoạch vì nó là sản phẩm thế mạnh của Việt Nam.

Còn đối với tín dụng, chúng tôi cũng căn cứ vào định hướng đó, chúng ta phải bắt đầu tái canh. NHNN cũng bắt đầu cho vay tái canh cây cà phê. Vì nếu chỉ 3 năm nữa, nếu chúng ta để giống cà phê già cỗi thì sản lượng sẽ giảm đi, chất lượng giảm, có khả năng chúng ta sẽ mất vị thế của mình. Điều  này đòi hỏi vốn dài, lớn. Ngân hàng đã có chủ động làm và tới đây sẽ xin ý kiến của Bộ NNPTNT về việc này. Chúng tôi cũng đang có đề án tái canh. Trên thực tế đã ký hợp đồng tín dụng với Lâm Đồng, Đắk Lắk và Tổng công ty cà phê để chuẩn bị cho chương trình tái canh cây cà phê.

BTV: Thưa ông ở góc độ Bộ NNPTNY làm thế nào để xử lý được nợ xấu trong các doanh nghiệp nông nghiệp, để góp phần giảm thiệt hại cho nông dân?

Ông Vũ Văn Tám: Để giải quyết nợ xấu trong lĩnh vực nông nghiệp, giảm thiệt hại cho dân, chúng ta đang thực hiện 2 giải pháp.

Thứ nhất, tôi đồng tình với giải pháp của Chính phủ, NHNN đã đưa ra là đánh giá lại nợ các doanh nghiệp lớn, phân tích, cơ cấu lại nợ theo lộ trình của ngân hàng đưa ra. Tôi cho rằng đây là giải pháp quan trọng, nhưng thực hiện cần có thời gian, không thể sốt ruột.

Thứ hai, những mặt hàng nông sản của chúng ta chủ yếu phục vụ xuất khẩu. Thời gian qua doanh nghiệp trong nước vừa gặp khó khăn về vay vốn sản xuất; vừa khó khăn đầu ra do sức mua của thị trường thế giới sụt giảm. Không tiêu thụ được hàng hóa, thì doanh nghiệp không có tiền, chuỗi giá trị này tác động trở lại làm cho người nông dân khó khăn.

Hiện giờ giá các sản phẩm như cá tra, thịt heo đã tăng lên. Ví dụ, giá thịt heo hơi hiện vào khoảng 43.000 – 44.000đ/kg; giá cà phê cũng đã tăng lên...

Tóm lại đây là 2 giải pháp quan trọng một là kiên trì phân tích cơ cấu lại nợ, hai là phát triển thị trường.

BTV: Từ góc độ Hội Nông dân ông có ý kiến gì về vấn đề này?

Ông Lại Xuân Môn: Giải pháp rà soát, đánh giá cơ cấu lại nợ của doanh nghiệp dành cho người hoạch định chính sách. Tôi chỉ mong tiến hành rà soát sớm để người dân đỡ thiệt thòi. Có lẽ những đơn vị nào làm ăn tốt thì nên có giải pháp giải cứu như,giải cứu thị trường “bất động sản”.

Còn về phía Hội, thời gian tới chúng tôi sẽ chỉ đạo bà con thực hiện theo NQ TW 5, theo đó phải ký hợp đồng, xây dựng mô hình liên kết hợp tác. Nếu không doanh nghiệp bắt chẹt bà con rất “dễ dàng”.

BTV: Mặc dù tăng trưởng tín dụng trong nông nghiệp nông thôn đạt khá so với các lĩnh vực khác nhưng tỷ trọng vốn tín dụng cho lĩnh vực này so với cả nền kinh tế vẫn còn khiêm tốn, trong thời gian tới NHNN có biện pháp gì để hướng dòng vốn về lĩnh vực này?

 Ông Nguyễn Viết Mạnh: Tôi nghĩ rằng phải có rất nhiều chính sách, hỗ trợ vốn, hỗ trợ sau thu hoạch, hỗ trợ vùng nghèo, người nghèo, huyện nghèo… Và lượng tín dụng 622.000 tỷ đồng cho nông nghiệp, nông thôn là phù hợp với đóng góp của nông nghiệp vào GDP.

Ông Lại Xuân Môn: Bên cạnh việc đóng góp vào GDP thì vấn đề quan trọng là giữ ổn định chính trị, an ninh nông thôn.

Ông Nguyễn Viết Mạnh: Chúng ta phải phát triển HTX để đứng ra hỗ trợ nông dân, rồi mô hình cánh đồng mẫu lớn để sản xuất hàng hóa thì mới có thể hấp thụ được vốn tín dụng chứ với quy mô sản xuất nhỏ lẻ thì giống như đưa cho 1 hộ gia đình 500 triệu đồng thì người ta cũng chưa chắc biết sản xuất thế nào cho ra 600-700 triệu đồng. Vì vậy, tín dụng phải có địa chỉ cụ thể.

BTV: Thông qua kênh tín chấp của Hội Nông dân thì đã có một nguồn tín dụng lớn đến với các hội viên phát triển sản xuất kinh doanh. Qua hoạt động này thời gian qua Hội NDVN có kiến nghị gì để giúp nông dân tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn?

Ông Lại Xuân Môn: Đảng, Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhưng vấn đề là nguồn tài chính dành cho các chính sách này đang còn hạn chế. Bản thân Hội Nông dân cũng đã ký kết với Ngân hàng Chính sách xã hội, Agribank… đế cấp vốn tín dụng qua kênh Hội Nông dân cho thấy hiệu quả rất tốt, tỷ lệ trả nợ đúng hạn cao, nợ xấu thấp… được các đồng chí lãnh đạo Dảng, Nhà nước đánh giá cao. Đồng thời, nhiều cấp hội khác như Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh… cũng tích cực tham gia vào việc hỗ trợ cấp tín dụng cho nông dân. Tuy nhiên, nguồn vốn đến với bà con nông dân vẫn còn ít.

BTV: Ông Nguyễn Viết  Mạnh đánh giá thế nào về hiệu quả cấp vốn tín dụng thông qua các cấp hội, đoàn thể?

Ông Nguyễn Viết Mạnh: Về nguồn lực dành cho nông nghiệp, nông thôn, các tố chức tín dụng huy động vốn tại địa bàn nông thôn chỉ đạt 60-70% còn muốn cho vay thêm phải sử dụng nguồn lực khác. Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo quyết liệt để dành nguồn vốn tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn. Các ngân hàng thì thanh khoản rất dồi dào, nhưng tại sao vốn vẫn ra từ từ , đó là do khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Ngay cả bà con nông dân khi vay cũng luôn tính toán để làm sao sử dụng vốn vay hiệu quả. Nếu bà con vay mà không đưa ra phương án cụ thể thì làm sao ngân hàng cho vay được.

Còn thông qua các cấp hội thì cơ bản là tốt, vì các ngân hàng không thể bao quát hết được địa bàn, cán bộ ngân hàng đến tận nơi thì không đủ sức.

BTV: Các thủ túc vay vốn còn rườm rà , quy định về tài sản thế chấp là những rào cản trong tiếp cận vốn của các hộ nông dân, vậy trong thời gian tới những quy định, hướng dẫn về cho vay tới hộ nông dân, HTX nông nghiệp sẽ được điều chỉnh thế nào khi chúng ta tiến hành sửa đổi Nghị định 41?

Ông Nguyễn Viết Mạnh: Những năm qua nông nghiệp phát triển mạnh, tiến tới sản xuất hàng hóa thì việc tiếp cận vốn sẽ phải điều chỉnh theo hướng nâng mức vay vốn không phải thế chấp đối với hộ nông dân cũng như các trang trại, HTX.

Thứ hai, chúng ta cũng phải tính đến vấn đề đô thị hóa nhanh ở nông thôn nhưng người dân vẫn làm nông nghiệp, những đối tượng này phải được hưởng chính sách vay vốn từ Nghị định 41. Thứ ba, việc giữ số đỏ chính là giữ cho nông dân, chứ không phải là thế chấp, để tránh bà con nông dân tiếp tục vay ở ngân hàng khác, dẫn đến mất khả năng trả nợ.

Ông Nguyễn Tiến Đông: Hiện chúng tôi đang chỉ đạo các chi nhánh Agribank cấp tỉnh tổ chức sơ kết 3 năm thực hiện Nghị định 41, phối hợp với Hội Nông dân, Hội Phụ nữ để sơ kết toàn quốc. Đánh giá những mặt được và nhất là những cái chưa được, ở cơ sở và Trung ương. Từ đó tìm ra những vướng mắc, hạn chế để làm thế nào đưa chính sách này thực hiện hiệu quả hơn.

Về việc cho vay qua các hội thì đối với nông nghiệp, nông thôn ngoài việc cho vay trực tiếp thì chúng tôi vẫn phải trông cậy vào Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… Đồng thời, cần phải có cơ chế chính sách bảo hiểm nông nghiệp, cũng như chính sách cụ thể về phân loại nợ, trích lập dự phòng, xử lý rủi ro… đặc thù cho lĩnh vực NN.

Về khó khăn của DN cà phê, thủy sản… thì lãi suất cao chỉ là một khía cạnh dẫn đến DN khó khăn trong trả nợ, phá sản, mà đối với cà phê việc kinh doanh trên sàn giao dịch hàng hóa còn nhiều rủi ro. Còn đối với khó khăn của DN thủy sản, thì thực tế nếu họ sử dụng đúng tiền vay của ngân hàng để sản xuất thì lỗ không đáng kể nhưng hầu các DN này đều dùng vốn vay không đúng mục đích như đầu tư bất động sản… Nếu chỉ có thu mua, chế biến, xuất khẩu không đến mức thua lỗ, rồi phá sản.

BTV: Ông Vũ Văn Tám có nhận xét thế nào về vấn đề này?

Ông Vũ Văn Tám: Đó là thực trạng mà tôi nghĩ rằng chúng ta cũng đang nỗ lực giải quyết. Nhưng tôi cho rằng, để giải quyết căn bản cần phải có sự đánh giá tổng kết lại toàn bộ tổng thể tín dụng trong nông nghiệp nông thôn. Để có bổ sung hay đề xuất sửa đổi Nghị định 41 hay chính sách tín dụng cho phù hợp, theo tôi phải gắn với đề án tái cơ cấu của ngành nông nghiệp mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt.

Trong Quyết định phê duyệt Đề án, Thủ tướng nhấn mạnh, phải tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Đây là định hướng rất quan trọng. Trong QĐ này, cũng nói rõ tái cơ cấu theo hướng lựa chọn những sản phẩm chủ lực có thế mạnh của Việt Nam, có thị trường tiêu thụ và chúng ta tổ chức theo chuỗi giá trị.

Tôi cho rằng, trên cơ sở tái cơ cấu của ngành nông nghiệp, chọn những sản phẩm chủ lực để chúng ta có chương trình, kể cả tín dụng vay vốn cũng phải bám sát với tổ chức lại sản xuất thì mới hiệu quả. Tôi rất muốn là trong chính sách tín dụng tới đây, ngoài chính sách chung thì phải có những chương trình riêng cho những sản phẩm chủ lực. Ví dụ như, cá tra, lúa gạo, cà phê, với mỗi đối tượng như vậy có cách khác nhau trong quá trình sản xuất cũng như thị trường thì chúng ta phải có chính sách riêng về tín dụng cho phù hợp.

Còn đối với thủy sản, từ đầu tới giờ chúng ta chưa đề cập tới mảng rất quan trọng là tín dụng cho ngư dân khai thác trên biển. Đây là 1 lĩnh vực ngoài sản xuất đời sống bình thường còn liên quan đến bảo vệ chủ quyền quốc gia và rủi ro thì rất lớn. Nhưng hiện nay, ngư dân hầu như rất khó tiếp cận tín dụng của nhà nước, chúng ta phải có chương trình riêng vay vốn cho ngư dân.

Tôi mong muốn có 1 chương trình vay vốn đặc biệt ưu đãi dành riêng cho ngư dân với thủ tục rất đơn giản. Do vậy, rất mong bên ngân hàng, các ngành chúng ta nghiên cứu vấn đề này, để tới đây cùng với Bộ NNPTNT và các bộ liên quan đề xuất chính sách tín dụng cho nông nghiệp nông thôn nói chung, đặc biệt cho ngư dân.

BTV: Chỉ có 1 chính sách tín dụng tốt thì ngư dân mới bám biển tốt hơn. Ông có suy nghĩ thế nào?

Ông Nguyễn Viết Mạnh: Cũng như ông Vũ Văn Tám nói, ngư dân hiện nay đang hưởng các chính sách như chúng ta nói ban đầu, Nghị định 41 cũng bao gồm cả đối tượng ngư dân. Các chính sách sau thu hoạch thì ngư dân cũng được hưởng. Tóm lại, ngư dân cũng là một đối tượng để hưởng tất cả các chính sách như chúng ta nói từ đầu chương trình.

Ngư dân chịu nhiều rủi ro, nếu không có biện pháp phòng chống rủi ro thì tín dụng cũng rất khó. Đối với ngư dân đúng là phải có chính sách, vừa rồi Chính phủ cũng có chính sách đóng tàu thí điểm, cũng giao cho Agribank, cũng đang thực hiện thí điểm nhưng cũng còn vướng mắc, vì đây là tín dụng chính sách nhưng lại dùng tín dụng thương mại, cho nên cũng có một số vướng mắc. Chúng tôi đã báo cáo để có giải pháp tháo gỡ.

BTV: Thưa ông Nguyễn Viết Mạnh, từ giờ đến cuối năm chính sách tín dụng với nông nghiệp có điểm gì mới, nổi bật không?

Ông Nguyễn Viết Mạnh: Từ nay cho đến cuối năm, hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục triển khai các chính sách tín dụng trọng lĩnh vực nông nghiệp, nông dân đã được quy định. Đồng thời sẽ tiếp tục thực hiện giãn, hoãn nợ; giảm một phần lãi đối với những khoản nợ xấu…

Bên cạnh đó, NHNN cũng đang nghiên cứu, phối hợp với các cơ quan liên quan đề xuất cho vay một số chương trình mới, phù hợp với quy trình sản xuất của bà con như đã nêu ở phần trên.

BTV: Qua những nội dung mà các vị khách mời vừa trao đổi, có thể nhận thấy nhu cầu về tín dụng cho nông nghiệp nông thôn là rất lớn và các vướng mắc rào cản về tín dụng cho lĩnh vực này đang được Chính phủ và các ngành chức năng quan tâm tháo gỡ. Nhưng để đáp ứng được nhu cầu phát triển của lĩnh vực tam nông, nhất là nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh của các hộ nông dân thì vẫn còn một khoảng cách khá lớn từ chính sách đến thực tiễn triển khai, cần được sự quan tâm chỉ đạo quyết liết hơn nữa của các cấp các ngành.

Chúng tôi xin được kết thúc cuộc tọa đàm trực tuyến “Đáp ứng nhu cầu tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn”. Cảm ơn sự tham gia của các vị khách mời. Cảm ơn sự theo dõi của độc giả.

Tọa đàm trực tuyến: Tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn Tọa đàm trực tuyến: Tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn
10 391 56 reviews

Sáng nay, 15/8, Cổng TTĐT Chính phủ tổ chức tọa đàm trực tuyến “Đáp ứng tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn” với các khách mời đến từ Bộ NNPTNT, Hội Nông dân Việt Nam, NHNN, Ngân hàng NNPTNT.

 

Vĩ mô

Thông tin thị trường
  • Tất cả
  • Tất cả
  • Hose
  • HNX
  • UPCom
Bình luận mới
Top