Dòng sự kiện : Kế hoạch kinh doanh 2014    Mùa Đại hội cổ đông 2014    KQKD 6 tháng đầu năm 2014    GATEWAY TO VIETNAM 2014
Đăng ký nhận Newsletter
Mã CK

Tiết kiệm ròng của Việt Nam ở mức âm rất lớn

(NDH) Thâm hụt thương mại của Việt Nam vẫn ở mức đáng lo ngại, đó là sự phản ánh của tiết kiệm ròng mang dấu âm và thủ phạm là đầu tư nội địa quá cao.

Cùng với nhận định đó, Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 do Ủy ban Kinh tế của QH vừa công bố chỉ rõ những nguyên nhân dẫn đến tiết kiệm ròng của Việt Nam ở mức âm rất lớn.

Cụ thể, Báo cáo nêu rõ: Nếu giai đoạn 2001-2005, nhập siêu của VN trung bình ở mức 9,1% GDP thì giai đoạn 5 năm tiếp theo (2006-2010), nhập siêu đã tăng tới 14,7% GDP. Trong khi đó, Trung Quốc và các nước ASEAN như Indonesia, Thái Lan hay Malaysia đều có thặng dư thương mại, thậm chí ở mức rất cao (như Malaysia 22% GDP).

Năm 2011, nhập siêu đã có dấu hiệu suy giảm mạnh, chỉ còn 9,5 USD (so với 12,6 tỉ năm 2010), chiếm 7,7% GDP (so với 11,9% năm 2010); tỉ lệ nhập siêu/xuất khẩu chỉ còn 9,8%, dưới xa mức chỉ tiêu của Quốc hội là 16%.

Tuy nhiên, theo như phân tích, điều này chủ yếu là do thuận lợi giá, đặc biệt là giá xuất khẩu, và vì thế, xu hướng giảm nhập siêu khó bền vững do rủi ro cú sốc giá thế giới trong gian tới, nếu không có những cải thiện đáng kể về cơ cấu.
 

Image

Từ năm 1997-2000, xuất siêu, nhập siêu của VN luôn có sự chênh lệch khá lớn


Trong khi đó, Báo cáo cho biết: Thực ra Việt Nam không phải là nước có tỉ lệ tiết kiệm thấp. Theo Viện Khoa học Xã hội Việt Nam - VASS (2011), tỉ lệ tiết kiệm của Việt Nam còn cao hơn mức trung bình chung của các nước có thu nhập thấp (khoảng 21%), các nước có thu nhập trung bình thấp (khoảng 23%) và bình quân chung của thế giới (khoảng 25%). Do đó, thủ phạm chính là tỉ lệ đầu tư nội địa ở mức quá cao.

Việt Nam đang duy trì tăng trưởng bằng cách dựa vào vốn đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư thiếu hiệu quả. Vì vậy, tổng đầu tư toàn xã hội liên tục tăng và duy trì ở mức cao để đạt mục tiêu về tăng trưởng.

Tỉ lệ vốn/GDP đã tăng từ 35,4% năm 2001 lên 41,9% năm 2010, bình quân cho cả giai đoạn 2001-2010 là xấp xỉ 41%, trong đó giai đoạn 5 năm gần đây (2006-2010), tỉ trọng này là 42,9%, gấp đôi Malaysia và gấp rưỡi so với Indonesia và Thái Lan.

Tiết kiệm ròng nội địa bao gồm tiết kiệm ròng khu vực Chính phủ và tiết kiệm ròng khu vực tư nhân (các hộ gia đình và doanh nghiệp - bao gồm cả DNNN). Thâm hụt ngân sách (tiết kiệm ròng của Chính phủ mang dấu âm) ở mức cao và dai dẳng trong thời  gian dài để phục vụ cho mô hình tăng trưởng đã đóng góp lớn vào tỉ lệ tiết kiệm nội địa thấp.

Tuy nhiên, đóng vai trò quan trọng không kém, và được “hỗ trợ” từ chính sách vĩ mô và những vấn đề nội tại của khu vực tài chính ngân hàng (cũng là hệ quả của mô hình tăng trưởng và cấu trúc kinh tế), là chênh lệch đầu tư - tiết kiệm (tiết kiệm ròng âm) của khu vực tư nhân gia tăng cao.

Số liệu công bố về tiết kiệm ròng khu vực tư nhân không có sẵn, nhưng có thể quan sát hành vi của hộ gia đình và khu vực doanh nghiệp trong các năm qua để đánh giá.

Đối với khu vực hộ gia đình, do thị trường tài chính còn non trẻ, yếu kém, chứa đựng nhiều rủi ro trong bối cảnh lạm phát và bất ổn vĩ mô gia tăng trong những năm gần đây được coi là một nguyên nhân khiến tiết kiệm ròng của khu vực này không lớn.

Đặc biệt từ năm 2007, khi Việt Nam đón nhận một nguồn vốn lớn từ nước ngoài, nhưng NHNN chưa có kinh nghiệm trong trung hoà dòng tiền tăng đột biến này đã dẫn đến lạm phát và bong bóng trên thị trường tài sản như thị trường chứng khoán và bất động sản. Điều này đã kích thích tiêu dùng thái quá đối với một bộ phận người tiêu dùng, đặc biệt ở khu vực thành thị.

Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp lại có mức đầu tư rất lớn so với tiết kiệm - có thể nhìn thấy qua quy mô vay nợ tín dụng tăng cao trong những năm qua.

Báo cáo kết luận: Tỉ lệ tín dụng/huy động của Việt Nam ở mức rất cao so với hầu hết các nước trong khu vực. Nguyên nhân của sự mất cân đối này không những xuất phát từ các chính sách kích thích tăng trưởng kinh tế thông qua nới lỏng tiền tệ và tài khóa trong thời gian dài.

Những hành vi đầu tư thiếu thận trọng, “chụp giật”, dàn trải nhưng thiếu hiệu quả của các doanh nghiệp khá phổ biến. Những doanh nghiệp như vậy lại có sự “giúp sức” rất lớn của hệ thống ngân hàng yếu kém, thiếu giám sát vĩ mô và vi mô hiệu quả, trong đó, nhiều ngân hàng nhỏ hoạt động với mục tiêu tăng trưởng nhanh bằng cách tăng trưởng mạnh tín dụng, thậm chí là không kiểm soát và một cách dễ dãi.

Báo cáo khuyến nghị: Nếu không thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó có tái cơ cấu hệ thống tài chính ngân hàng thì tình trạng nhập siêu và tiết kiệm ròng âm khó có thể giải quyết triệt để và bền vững.  

Tiết kiệm ròng của Việt Nam ở mức âm rất lớn Tiết kiệm ròng của Việt Nam ở mức âm rất lớn
10 330 56 reviews

(NDH) Thâm hụt thương mại của Việt Nam vẫn ở mức đáng lo ngại, đó là sự phản ánh của tiết kiệm ròng mang dấu âm và thủ phạm là đầu tư nội địa quá cao.

Chia sẻ bài viết này

  • Đọc nhiều nhất
  • Bình chọn
  • Bình luận

Thông tin thị trường

Tất cả
  • GD nhiều nhất
  • Tăng mạnh
  • Giảm mạnh

Tin ảnh