Vui lòng chờ trong giây lát

[Live] NDH Talk: 20 năm thị trường chứng khoán và bước chuyển của dòng vốn ngoại

(NDH) Nhân dịp kỷ niệm 20 năm thị trường chứng khoán, Chuyên trang Người Đồng Hành tổ chức Buổi tọa đàm NDH Talk 2 với chủ đề “Thị trường chứng khoán 20 năm và bước chuyển của dòng vốn ngoại”.

Các nội dung trao đổi tại buổi tọa đàm được tường thuật trực tiếp qua Chuyên trang Người Đồng Hành tại www.ndh.vnvà livestream trên Fanpage www.facebook.com/baondh.

Ông Nguyễn Duy Hưng: 20 năm trước ngành Chứng khoán ra đời chúng ta đang cạnh tranh nhau, suy nghĩ rằng có tồn tại được một nền chứng khoán trong một thể chế Chủ Nghĩa Xã Hội hay không. Không ai nghĩ rằng có được như hôm nay, kể cả anh Vũ Bằng, từ thời là chuyên viên đến Chủ tịch UBCKNN cũng không nghĩ có được như ngày hôm nay. So với kỳ vọng của 20 năm trước, thị trường đã phát triển không ai tưởng tượng được.

Ngày đầu chúng ta chỉ có hai cổ phiếu REE và SAM, 4 công ty chứng khoán hoạt động là Công ty chứng khoán Bảo Việt, Công ty chứng khoán BIDV, Đệ Nhất, SSI. Đến nay có gần 700 công ty niêm yết trên sàn GDCK Hà Nội và TP.HCM, có 320 cổ phiếu trên sàn UPCoM.

Vốn hóa thị trường tính đến ngày 15/11 đạt 75,61 tỷ USD, tương đương 37,8% GDP, nếu tính cả trái phiếu đạt gần 40% GDP, đây là con số ấn tượng.

Trong dịp kỷ niệm 20 năm thành lập ngành chứng khoán và 16 năm hoạt động TTCK, ôngVũ Bằng là người gắn với thị trường từ những ngày đầu. Xin ông chia sẻ suy nghĩ của mình về 20 năm trước và đặc biệt 16 năm vừa qua?

Ông Vũ Bằng: Trước đây, vấn đề thị trường vốn của những năm 1992 – 1993 rất mới lạ. Khi đó có quỹ đầu tiên là First Việt Nam Fund muốn đầu tư vào Việt Nam đến Ủy ban hợp tác đầu tư, tuy nhiên đây là loại hình đầu tư gián tiếp không thuộc quản lý của Ngân hàng. Quỹ này dự kiến huy động khoảng 200 triệu đô đầu tư vào thị trường vốn, và để đầu tư vào thị trường vốn thì phải có thị trường chứng khoán. Họ giúp ta tổ chức hội thảo, huấn luyện, đào tạo, đi học tập tại nước ngoài. Từ đó, NHNN quyết định thành lập ban thị trường vốn để chuẩn bị cho việc xây dựng TTCK ở Việt Nam.

Sau đó, chính phủ thành đã thành lập UBCKNN vào năm 2006. Chúng tôi khi làm đề án này nhiều người đặt câu hỏi về tính khả thi của thị trường, đặc biệt trong nền kinh tế cơ chế bao cấp, cụ thể như tính chất XHCN ở trong thị trường vốn này như thế nào. Lúc đó, ông Lê Văn Châu cho biết đây là sản phẩm rất văn minh trên thế giới và chúng ta phải vận dụng để huy động vốn phát triển nền kinh tế.

Chúng tôi đã tập trung xây dựng chương trình trình Chính phủ và Bộ Chính trị, Thủ tướng Lê Khả Phiêu đồng ý và nói nếu đồng ý triển khai thì phải thành công. Lúc đó Chính phủ đã cấp dự án 200 triệu đô để xây dựng thị trường, tuy nhiên do còn một số trở ngại nên dự án này bị tạm gác lại mà thay vào đó là dự án hiện nay gói thầu 04 mà TPHCM đang triển khai. Dự án bán đầu là áp dụng theo Thái Lan trong đó, FPT xây phần lưu ký và phối hợp triển khai cùng các CTCK.

Lúc đó nhiều CTCK không ai muốn thành lập do còn khó khăn nên chỉ có 4 CTCK, tiên phong tư nhân đầu tiên là SSI của anh Hưng, còn chủ yếu dựa vào ngân hàng. Bên cạnh đó, hàng hóa trong những ngày đầu không có, công nghệ sơ sài.

Sau 20 năm tôi cũng không hình dung được. Đã có câu hỏi đặt ra lúc đó là tại sao mở TTCK sớm trong khi thị trường tiền tệ chưa phát triển. Thời điểm đó chỉ chủ chủ yếu phát triển thị trường trái phiếu. Nhưng sau 5 - 6 năm đầu thị trường trái phiếu không phát triển.

Sau 20 năm, thị trường Trái phiếu đã có tốc độ phát triển 28% năm, vốn hóa thị trường cổ phiếu là 40%, huy động vốn 23% tổng mức đầu tư xã hội. Trên 1.000 công ty niêm yết trên thị trường vốn (niêm yết, UPCoM). Tương lai chúng ta có thị trường chứng khoán phái sinh và thị trường trái phiếu DN. Chúng ta đi đầu trong việc công bố thông tin, quản trị công ty...đi qua rất nhiều khó khăn để đi đến thị trường ngày hôm nay.


Bà Lệ Hằng (trái) và ông Dominic Scriven (phải)

Ông Nguyễn Duy Hưng:Các nước khác, các thị trường có từ rất lâu sau đó uỷ ban ra đời để kiểm soát thị trường, trong khi chúng ta đầu tiên phát triển thị trường cho lớn, có uỷ ban trước rồi mới có thị trường và kiểm soát nó. Khi bản thân chúng ta không dám tin vào sự phát triển của TTCK nhưng một ông tây nói tiếng Việt hay một ông Việt nói tiếng tây lại đặt niềm tin vào TTCK Việt Nam và gắn bó với thị trường này suốt 20 năm qua. Ngày hôm nay nhìn lại thì dễ lắm, nhưng xin hỏi anh Dominic, ngày ấy anh nghĩ gì mà đặt niềm tin vào TTCK Việt Nam và những ngày thị trường trồi sụt thì anh giải thích với những nhà đầu tư nước ngoài như thế nào để không bị mất uy tín? Nếu cho làm lại anh có bắt đầu với TTCK Việt Nam hay không?

Ông Dominic Scriven: 20 năm trôi nhanh không tưởng tượng nổi. Năm 1994, khi nghe Việt Nam đang nghiên cứu lập thị trường chứng khoán, tôi đã gặp anh Bằng tại Hà Nội và vào Tp.HCM tôi đã nhận một việc nhỏ là chỉnh tiếng Anh của đề án thị trường vốn của ông Trần Du Lịch trình cho thành phố. Tôi đã quyết định lập quỹ nhưng chưa có thị trường nên tôi thuyết phục các nhà đầu tư là Việt Nam sẽ có TTCK nhưng không ai tin. Ba nhà đầu tư đầu tiên của tôi là Bố, mẹ và em gái. Mỗi người 10.000 USD. Lúc đó tôi phải cam kết với họ rằng họ bán lại vào bất cứ giờ nào cũng có thể nhận lại giá gốc, đấy là một sản phẩm phái sinh.

Lúc đó khi đi ra huy động vốn tại thị trường nước ngoài rất kỳ lạ, các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu tham gia ở Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Philippins, nhưng rất ít đầu tư vào Trung Quốc vì Trung Quốc rất mới mẻ, nên trong mắt họ lúc bấy giờ Việt Nam còn mới mẻ nữa.

Việt Nam lúc đó đang trong quá trình đổi mới, các nhà đầu tư nước ngoài nhìn Việt Nam có đề án thị trường vốn nên một vài người tham gia. Tôi đã đóng quỹ vào năm 95, anh Bằng nói có thị trường năm 96,97, chúng tôi bắt đầu đầu tư với chiến lược tham gia cùng với các công ty Việt Nam. Tuy nhiên nếu nhìn lại trước đó năm 92 mới có Luật công ty nhưng trong luật đó chưa có khái niệm về nhà đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn vào đầu tư tại Việt Nam, nên thời điểm đó kiếm cơ hội đầu tư hơi cực. Mỗi khi tham gia phải có sự đồng ý của văn phòng Chính phủ cho phép mới được tham gia, nhưng vẫn đầu tư được..

Năm 96 khi bắt đầu khủng hoảng Châu Á trong đó có Việt Nam, đến năm 97 là đỉnh điểm khủng hoảng, các thị trường khi đó mất 60-70%, khi đó Chính phủ Việt Nam đã dừng lại thành lập TTCK. Thời điểm đó NHNN Việt Nam điều chỉnh tỷ giá nên chúng tôi mất hơn 1/3 giá trị. Đến năm 98, khi tôi về thăm mẹ dịp Tết Tây, tôi phải thú nhận rằng đã làm lỗ 1/3 số tiền của mẹ.Lúc đó ba nói “cố lên cố lên”. Bố tôi lúc đó tham gia mua cổ phiếu dotcom, thời điểm đó cổ phiếu dotcom tăng rất mạnh và so với cổ phiếu của mình thì thấy rất “đau”. Đến năm 2000 khi nghe tin có thị trường chứng khoán thì DC đã rất mừng.

Đến nay nhìn lại không tưởng tượng nổi. Ban đầu khi lập công ty, ai cũng nghĩ mình làm 2-3 năm rồi về hưu nhưng 20 năm sau mình vẫn ngồi đây, một phần vì "mê"cái thị trường này, một phần vì mình đánh giá sự phát triển của thị thị trường này phát triển, các nước khác mình đầu tư đều là các thị trường có truyền thống lâu đời, như ở Anh là 300 năm, còn tham gia tại một thị trường bắt đầu từ con số 0 rất thú vị và muốn đi chung với thị trường đó.

Thị trường Myanmar hiện nay đang khá giống Việt Nam hồi năm 94, các bạn trẻ có thể sang đó để bắt đầu. Còn cá nhân tôi, tôi vẫn ở đây.

Ông Nguyễn Duy Hưng:Chúng ta vừa nghe ông Dominic từ bên ngoài chia sẻ anh vẫn muốn ở lại đây vì trong kinh doanh quan trọng nhất vẫn là benefit, thị trường này đã mang lại quyền lợi cho những người tham gia từ đầu. Với những người được hưởng lợi huy động vốn qua thị trường thì họ nghĩ gì. Chúng tôi xin hỏi ông Nguyễn Bá Dương, ông tận dụng cơ hội vốn ở thị trường này như thế nào, mang lại quyền lợi cho cổ đông ra sao?

Ông Nguyễn Bá Dương: Chúng tôi được lợi nhiều hơn khi tham gia vào thị trường chứng khoán. Coteccons xuất phát là DNNN cổ phần hóa năm 2004 tách ra từ công ty xây dựng. Vốn điều lệ ban đầu của công ty 15,2 tỷ đồng.

Những ngày đầu hoạt động, các cổ đông họp đòi chia tiền và luôn luôn thúc giục lên sàn. Ngày xưa nghĩ lên sàn rất sợ bởi rất nhiều cơ quan kiểm soát., phải báo cáo hồ sơ không biết có làm nổi không.


Ông Nguyễn Bá Dương (giữa)

Sau này, các cổ đông ép nhiều quá, công ty lên sàn năm 2010. Thực sự quyết định lên sàn là rất đúng đắn. Có lẽ lên sớm hơn cũng không hay. Doanh số ban đầu lớn nhất cũng chỉ là 250 tỷ đồng nhưng hiện tại doanh số năm đã tăng lên 20.000 tỷ sau 12 năm.

Công ty hoạt động trong lĩnh vưc xây dựng rất phức tạp do ngành nghề xây dựng đặc thù gắn liền với quản lý nhân công, vật liệu, tiền bạc rất phức tạp, nhìn cái gì cũng ra tiền và mất tiền rất dễ. Coteccons buộc lòng luôn cải cách hệ thống quản lý, chế độ chính sách, quy chế rất chặt chẽ. Ngay như việc đi du lịch của CBCNV mỗi nhân viên được 10 triệu lên 15 triệu, chế độ trả học phí cho con CBCNV, đi học nước ngoài cho con. Chế độ phúc lợi luôn cải tiến để CBCNV luôn gắn bó. Cùng đó, chính sách của công ty luôn chuyển động, việc đào tạo cũng được coi trọng, tuần nào cũng training. Số lượng nhân lực tăng 20%.

Tăng trưởng doanh thu vẫn có thể tăng trưởng 40-50% những năm tới.

Ông Nguyễn Duy Hưng: Khi chúng ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường với nhiều doanh nghiệp được cổ phần hóa. Một trong số những người gắn với thị trường là anh Trần Dũng. Anh Trần Dũng được cử về làm Giám đốc TTGDCK Hà Nội khi quá trình cổ phần hóa đang đến độ không ai muốn nhưng làm thế nào để cho người ta thích. Anh Trần Dũng cùng chúng tôi lập ra phương án cổ phần hóa nhà máy điện, rồi tổ chức đấu giá các nhà máy điện.

Anh Dũng cũng đề xuất phương án dùng động lực kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp tham gia niêm yết, miễn thuế cho doanh nghiệp niêm yết năm 2006, đấy là thời kỳ tạo bước nhảy lớn cho các DN tham gia niêm yết với chi phí không lớn nhưng tạo mặt bằng mới, các DN được hoạt động theo chuẩn mới minh bạch hơn có báo cáo kiểm toán, báo cáo tài chính. Hoạt động này đã tạo chuẩn mực sau này cho nền kinh tế, đến nay họp Quốc hội các ý kiến yêu cầu các doanh nghiệp Nhà nước có yêu cầu cần phải có báo cáo kiểm toán, báo cáo tài chính giống như doanh nghiệp niêm yết. Nếu chúng ta không làm trước thì ngày nay lấy gì để làm so sánh.

Xin mời anh Trần Dũng chia sẻ về những kỷ niệm của 16 năm về trước?

Ông Trần Dũng:Đấu giá qua 2 sở giao dịch từ 2005 trở thành một hiện tượng duy trì cho tới nay. Đến năm 2013 có hai câu chuyện đó là việc thị trường chứng khoán đang ở lúc khó khăn, VN-Index giảm từ 571 (năm 2001) đến 230 điểm (cuối năm 2003) và cả thị trường chỉ có vài chục DN niêm yết.

Thứ hai là việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở thời điểm đó. Chúng ta đã qua hai giai đoạn thực hiện. Giai đoạn thứ nhất là tự thành lập hội đồng đấu giá và đem bán. Thứ hai là giai đoạn từ 2000 – 2003 là có bán đấu giá qua các CTCK. Tuy nhiên thời điểm đó chưa có năm nào Chính phủ đạt được 30% kế hoạch đề ra. Lúc đó có nhiều vấn đề định giá, xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa, làm sao có cơ chế tốt hơn để bán được và bán giá tốt cho nhà nước.


Từ trái qua: Ông Trần Đình Cường, ông Trần Dũng, ông Lê Song Lai

Bối cảnh thứ ba là ở thời điểm đó, khi bàn luận về việc phát triển chứng khoán có 2 câu chuyện nữa là có nên mở Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK ) Hà Nội nữa không khi Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh mở ra lúc đó là khó khăn (2000 - 2003).

Câu chuyện thứ hai là về mặt lý thuyết, muốn phát triển thị trường chứng khoán thì phải có hàng hóa (cổ phần hóa DN Nhà nước), nhưng muốn cổ phần hóa DN Nhà nước thì phải có TTCK. Đây là câu chuyện quả trúng con gà.

Các nhà hoạch định chính sách lúc bấy giờ có một dự thảo nghị định của Chính phủ trong đó có nêu ra việc đấu giá công khai qua TTGDCK (lúc đó chỉ có TTGDCK HCM). Giữa năm 2004, tôi có xin anh Bằng 300 triệu để làm phần mềm đấu giá để đón đầu và sau đó được thực hiện.

Sau đó đến ngày 8/3/2004 đã đưa phần mềm vào áp dụng đấu giá doanh nghiệp đầu tiên. Chúng tôi đã không thể tưởng tượng được ngay ngày đấu giá thứ hai của VSH người đầu tư đến rất đông, TTGDCK Hà Nội đã chật kín người. Thời điểm đó, mỗi dịp đấu giá là một sự kiện. Đỉnh điểm là sự kiến đấu giá PVI có 5.000 NĐT tập trung tại Trung tâm GDHN tới xếp hàng tham gia, có nhiều NĐT không bỏ phiếu kịp do hết thời gian. Thời gian đầu có khái niệm bán được hết nhưng sau đó chỉ có khái niệm bán gấp 2, 5 đến 7 lần. Công cuộc cổ phần hóa được đẩy mạnh đã tạo ra lượng hàng hóa rất lớn cho TTCK phát triển. Đến nay, chúng ta đã rất thành công trong công việc đẩy mạnh cổ phần hóa tức là chuyển giao cái nhà nước không cần can thiệp sang cho tư nhân từ đó sẽ tốt hơn.

Ông Nguyễn Duy Hưng: Khi lập ra Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn nhà nước (SCIC) Chính phủ cũng mong muốn SCIC là thành tố của TTCK. Những gì đã đặt ra ban đầu, chúng ta đã làm được bao nhiêu. Gần đây xã hội đặt ra vấn đề rất gay gắt, phải chăng mô hình vừa quản lý vừa nắm giữ vốn chủ sở hữu là không chuẩn. Với cương vị lãnh đạo SCIC, ông có thể chia sẻ gì với các thành viên thị trường?

Ông Lê Song Lai: Mặc dù, ban đầu khi thành lập, SCIC được kỳ vọng trở thành Temasek của Việt Nam. Nhưng vì nhiều lý do, mục tiêu đó cần thêm thời gian để thực hiện đạt được thành tựu nhất định.

Điều đầu tiên, SCIC đã đề ra phương thức quản lý đối với vốn nhà nước, chuyển từ mô hình quản lý tập trung sang mô hình quản lý qua doanh nghiệp đầu tư vốn.

Nếu quản lý vốn nhà nước có hiệu quả thì cần sớm nhất quản lý qua doanh nghiệp như một người chơi trên thị trường.


Ông Lê Song Lai

Bên cạnh tiếp nhận vốn nhà nước, SCIC còn là bên cung cấp nhiều hàng hóa có chất lượng. Trong 1.000 doanh nghiệp tiếp nhận, SCIC đã thoái vốn toàn bộ tại hơn 40 doanh nghiệp. Và tới đây, SCIC sẽ tiếp tục thoái vốn tại doanh nghiệp được nhiều nhà đầu tư quan tâm. Thời gian tới, SCIC sẽ tiếp nhận thêm 200 doanh nghiệp, tạo thêm hàng cho doanh nghiệp giúp thị trường phát triển.

Tỷ lệ kết quả thu về đạt trung bình 2,5 lần mệnh giá trong khi các tổng công ty khác tỷ lệ này là 1,5-1,7 lần.

Để thoái vốn đạt hiệu quả, theo đại diện của SCIC yếu tố quan trọng nhất là phải công khai minh bạch. Nhiều nhà đầu tư có cơ hội tham gia mua cổ phần.

Công khai kế hoạch thoái vốn trên web, sở GDCK, công khai phương thức thoái vốn, phần lớn bán vốn công khai cả lô rồi mới bán thỏa thuận. Thông tin doanh nghiệp cũng được công bố bằng tiếng anh để NĐTNN có cơ hội tham chiếu. SCIC cũng thúc đẩy doanh nghiệp sớm lên sàn để tốt cho doanh nghiệp và cổ đông nhà nước.

Về việc chuyên nghiệp, SCIC cũng sử dụng dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp, tổ chức đấu giá từ các tổ chức có chức năng như các công ty chứng khoán.

SCIC cho rằng thông qua phương thức công khai, chuyên nghiệp thì sẽ hiệu quả hơn. Trong thời gian tới thị trường phát triển đã có 20 năm phát triển, cơ quản quản lý đã trưởng thành, quy định có sự cải tiến tích cực, đồng thời với quá trình cổ phần hóa diễn ra nhanh chóng thì tương lai thị trường chứng khoán rất tốt.

Ông Nguyễn Duy Hưng: Chị Hằng thấy thị trường bây giờ có khác gì so với 10 năm trước không?

Bà Hằng: Khi từ Mỹ về Việt Nam cách đây gần 10 năm, sự minh bạch trên thị trường gần như không có. Các nhà đầu tư giao dịch theo kiểu "lướt sóng", chỉ quan tâm tới lợi nhuận. Như vậy, thị trường không bao giờ có thể phát triển bền vững được.

Khi về SSI làm ở vị trí Giám đốc Phân tích, nhận thấy công ty đặt bộ phận này ở vị trí hàng đầu và đẩy mạnh việc phân tích, nhìn nhận cơ hội đầu tư, tôi cảm thấy rất khó. Nhưng sau khi vượt qua được và chuyển hóa được thông tin hiệu quả tới các nhà đầu tư, tôi nhận ra rằng thị trường Việt Nam thực sự rất hấp dẫn.

Ông Nguyễn Duy Hưng: Chị Lệ Hằng có chia sẻ khi về Việt Nam vấp phải chuyện NĐT lướt sóng. Chúng ta đừng nghĩ NĐT lướt sóng không phải là nhân tố của thị trường vì có NĐT là có thanh khoản.

Xin hỏi anh Cường, anh hãy cho nhận xét về câu chuyện kiểm toán và chất lượng kiểm toán? Anh tham gia từ ngày đầu thấy thị trường hiện nay có tốt hơn không, đã bao giờ anh đối mặt với công ty đặt vấn đề kiểm toán với anh mà anh từ chối chưa? Anh cho nhận định về những gì đang xảy ra từ những ngày đầu đến giờ?

Ông Cường: Tôi đã làm cho E&Y nhiều năm và chứng kiến sự ra đời cũng như trưởng thành của các công ty cổ phần của Việt Nam cũng như thành lập sở giao dịch. Ngay từ đầu chúng tôi có chiến lược rõ ràng là giúp các công ty cổ phần minh bạch và công bố các kết quả đó. Công ty đầu tiên cổ phần hóa là do chúng tôi kiểm toán. Chúng tôi luôn cam kết với trách nhiệm sự phát triển với các công ty cổ phần hóa và niêm yết.

Về trách nhiệm, chúng tôi gần như những người bảo vệ, không phải kiểm soát. Theo chuẩn mực chỉ dừng ở mức hợp lý, chứ không phải tuyệt đối. Chúng tôi chỉ là người bảo vệ, giống như có giấy thì cho đi qua, chúng tôi không được phép điều tra giấy có cấp đúng hay không. Trong phạm vi đó chúng tôi xác định cần làm thật tốt trách nhiệm của mình.

Trong 20 năm qua chất lượng kiểm toán phát triển như thế nào? Ngày đầu chưa có chuẩn mực kiểm toán và kế toán, chúng ta làm theo cái mà mình tin là tốt nhất. Tôi là người tham gia vào các ủy ban xây dựng chuẩn mực kế toán và kiểm toán của VN, cái chúng ta có bây giờ tiến rất xa so với cái bắt đầu 20 năm trước đây. Dù chưa hoàn thiện theo chuẩn mực quốc tế nhưng mức độ đảm bảo cao hơn rất nhiều.

Khi đi kiểm toán, chúng tôi đã từ chối tương đối nhiều khách hàng ngay từ đầu và rút khỏi nhiều cuộc kiểm toán. Có hợp đồng đã ký rồi nhưng xin rút vì chưa đáp ứng được yêu cầu về chuẩn mực.

Ông Nguyễn Duy Hưng: Anh Cường nói anh làm bảo vệ, cứ có giấy tôi cho qua, các công ty đến gặp xin kiểm toán có giấy cả mà anh từ chối chứng tỏ có giấy giả thì mới bị từ chối.

NĐT "comment" TTCK như một chỗ đánh bạc cao cấp, tôi không đồng ý với góc nhìn ấy. Chúng tôi tạo ra một cái chợ có những chuẩn mực, có hàng cao cấp và hàng thấp cấp. Có những thứ thông tin đến với NĐT không đầy đủ, hoặc có đến đầy đủ nhưng NĐT cố tình không hiểu khi xảy ra quay lại đổ cho người tổ chức chợ. Tôi xin hỏi người phụ trách chợ, nếu xảy ra thì xử lý như thế nào?

Ông Trần Dũng: Cơ quan quản lý rất đau đầu về vấn đề an toàn đầu tư. Tôi rất thích ý anh Cường nói: Chúng ta phải có chuẩn mực, và có chuẩn mực rồi phải chúng ta phải luôn cải tiến, nâng cấp và công khai chuẩn mực. Khi áp dụng, sẽ có người áp dụng theo cách này, cách khác.

Trong một cuộc chơi, phải có luật chơi công khai và rõ ràng. Ở đây, một nhà đầu tư luôn có trách nhiệm với đồng tiền và muốn sinh lời. Những người làm quản lý, tổ chức thị trường cần đảm bảo hàng hóa vào đến thị trường phải đạt chuẩn: giấy thông hành từ các cơ quan quản lý, giấy từ chỗ thực hiện kiểm toán, bảo đảm doanh nghiệp phải công bố thông tin cả về khía cạnh tổ chức và cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật.

Chúng ta có hệ thống giao dịch cho các NĐT được giao dịch một cách công bằng. Sau đó có một hệ thống giám sát để cảnh báo doanh nghiệp, NĐT và báo cho cơ quản quản lý.

Chúng ta đã là tổ chức thị trường, cũng như các nhà đầu tư thì đều phải luôn sẵn sàng. Khi nhà đầu tư đến, trong những trường hợp như vậy, chúng ta phải công bố lại luật chơi. Luật chơi phải rõ ràng. Mỗi người đều có trách nhiệm, trách nhiệm nào thuộc về NĐT, trách nhiệm nào thuộc về bên quản lý. Cơ quan quản lý nếu mắc sai lầm thì sẽ chịu trách nhiệm.

Ông Nguyễn Duy Hưng: UBCK đã nghĩ đến chuyện tách bạch sao cho độc lập giữa quản lý thị trường và phát triển thị trường? Phải chăng chế tài xử phạt bây giờ không đủ lớn để răn đe. Giống như tôi khi sang Đức biết đỗ xe sẽ bị phạt nhưng vẫn đỗ và chịu nộp phạt vì khoản tiền không lớn. Xin hỏi ông Bằng về các kế hoạch xử phạt của UBCK trong thời gian sắp tới như thế nào?

Ông Bằng: Kinh nghiệm quản lý giám sát vi phạm đã tốt hơn trước rất nhiều, về cơ bản là hướng tới thượng tôn luật pháp và hướng tới sự minh bạch của thị trường.

Ban đầu, UBCKNN chưa nhìn thấy hết gian lận, chỉ mới hướng tới giao dịch nội gián nhưng sau đó gian lận trong tài chính nhìn dần ra. Mức độ xử phạt tăng lên nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu.

Trong khi các nước khác sẵn sàng phạt nặng, đến khuynh gia bại sản. Tại Việt Nam, các chế tài xử phạt thấp nhưng được dựa vào xử phạt hình sự. Tuy nhiên, UBCK gặp khó do thẩm quyền trong việc điều tra tiếp cận email, tài khoản ngân hàng. Nhiều vụ được gửi lên nhưng không điều tra được. Thẩm quyền của UBCK chưa đầy đủ để phát hiện dấu hiệu, ra kết luận phải chuyển tới cơ quan công an mới có thể xử lý. Luật đã được sửa đổi nhiều lần. Dự kiến năm tới phải bổ sung thêm thẩm quyền này.

Xử phạt hành chính thấp nhưng lại không thể chuyển hình sự. Luật hình sự phải không quy định đầy đủ thiệt hại vật chất và phi vật chất. UBCK muốn áp dụng biện pháp hình sự nhưng không đủ thẩm quyền giải quyết gửi hồ sơ lên cơ quan công an nhưng không xử lý được, phải trả về. Tính răn đe chưa cao.


Về kiểm toán, dù đủ chuẩn mực nhưng giấy tờ rõ ràng đến mức độ nào là khó khăn đối với công ty kiểm toán, UBCK, Sở. Hệ thống kiểm toán mặc dù đã phát triển nhiều nhưng hiện công ty kiểm toán bé.

Khối lượng để kiểm toán cũng quá tải so với 20 công ty kiểm toán chấp thuận hàng năm. Áp lực thời gian, công việc và các quy định chưa hoàn thiện nên vẫn chưa yên tâm về việc kiểm toán, UBCK chưa năm nào đình chỉ kiểm toán viên nhiều như năm nay. UBCK sẽ kiên quyết trong vấn đề này và phải có cải cách để có thể bảo vệ nhà đầu tư.

Tất cả các gian lận đều sẽ phát hiện và xử lý được, dù như thế nào đi nữa cũng đều phải trả giá.

Ông Nguyễn Duy Hưng: Ở các nước khác, UBCK có quyền bắt tội phạm, còn UBCK Việt Nam không có quyền gì ngoài quyền thanh tra, điều này khác với các nước. Chúng ta chỉ được bảo vệ khi đã xảy ra rồi, bởi vậy các NĐT phải tự bảo vệ mình, qua nhiều kênh như qua CTCK, phương tiện truyền thông, biết công ty nào tốt, công ty nào xấu, công ty nào minh bạch.

Chúng ta tham dù biết công ty đó xấu, đến khi không chạy kịp quay lại ăn vạ, bởi thực tế rất ít người không biết thông tin.

Cơ quản quản lý nếu quy định chặt quá không ai tham gia được còn nếu quy định lỏng quá nhiều người vào được thì dễ có nhiều công ty sai phạm. Bởi vậy cần cân nhắc để thuận tiện kêu gọi mọi người tham gia thị trường, ngăn chặn kẻ gian. Những gì TTCK đã làm được trong 20 năm được ghi nhận và đánh giá cao. Nhiều người không tưởng tượng được Việt Nam trong thời gian ngắn đã phát triển được TTCK như bây giờ.,

Nhìn lại 20 năm thấy rất tự hào. Ông Dominic đã đặt niềm tin vào TTCK Việt Nam ngay từ ngày đầu chưa có gì. Nghị quyết Đại hội Đảng đánh giá TTCK có vai trò quan trọng là kênh huy động vốn của nền kinh tế. TTCK đã đi từ số 0 đến ngày hôm nay tiến lên.

Tôi xin hỏi Chủ tịch UBCK Vũ Bằng, ông nghĩ gì về thị trường 15 năm tới, khi có nhiều sản phẩm mới sắp ra đời như thị trường phái sinh, thị trường tương lai? Lúc ấy, ông quay lại TTCK với cương vị là cựu Chủ tịch sẽ thế nào?

Ông Vũ Bằng: Mức quy mô thị trường CK đặt ra lúc đó là 15% nhưng khi họat động chỉ là 2 – 3%, còn 15% là cả cổ phiếu và trái phiếu. Tuy nhiên đến năm 2006 mức này là 40% mức vốn hóa. UBCKNN đã xây dựng chiến lược đến năm 2020 vốn hóa cổ phiếu là 70% GDP. Liệu mức này có đạt được không? Nhiều chuyên gia trên thế giới nói quy mô của thị trường chứng khoán Việt Nam còn bé, các nhà đầu tư khó vào.

Tôi tin tưởng mục tiêu vốn hóa cổ phiếu bằng 70% GDP là đạt được, thậm chí 15 năm nữa vốn hóa cổ phiếu có thể đạt 100% GDP như các nước khác trên thế giới do bây giờ chúng ta bắt đầu một hệ thống cổ phần hóa, các doanh nghiệp lớn thoái vốn và việc bắt buộc niêm yết trên sàn hiện nay đã thực hiện cưỡng chế bằng Nghị định 60, chế tài xử phạt cũng đã có… Từ đó, hàng hóa trên thị trường trong tương lai sẽ khá lớn. Tương lai vốn hóa trái phiếu chính phủ là 50 - 60%, thị trường cổ phiếu là 100% GDP. Mức vốn hóa của Việt Nam so với một số nước chuyển đổi không phải là kém.

Bên cạnh đó, thị trường phái sinh đã tương đối hoàn tất, hướng tới cả phái sinh vàng, lãi suất từ đó quy mô của chúng ta sẽ trở nên rất lớn. Chưa kể thị trường trái phiếu doanh nghiệp, các sản phẩm cơ cấu, tái cấu trúc nâng hạng thị trường trong thời gian tới, sửa luật để gõ bỏ triệt để vướng mắc đầu tư nước ngoài.

Ông Nguyễn Duy Hưng: Chủ tịch càng khẳng định, tư duy của chúng tôi càng rõ ràng hơn, có niềm tin vào TTCK.

Tôi xin hỏi ông Dominic, quỹ của ông đã huy động được 1 tỷ USD. Tại sao khi thị trường nhỏ mà huy động tốt còn thị trường bây giờ lớn mà huy động không được như xưa. Phải chăng là do yếu tố cạnh tranh của thị trường hay còn có điều gì khác?

Ông Dominic: Mới đây tôi với anh Vũ Bằng tham dự một hội thảo ở Hồng Kông, tại đó, hội thảo về Việt Nam có số lượng người tham gia đông nhất nhưng chỉ có 15% trong số họ từng đầu tư vào Việt Nam. Một phần bởi ngành đầu tư đã thay đổi rất nhiều, một phần bởi yếu tố chất và lượng từ Việt Nam.

Theo tôi biết, các công ty quản lý quỹ lớn trên thế giới rất muốn đầu tư vào Việt Nam. Điển hình như một công ty của Mỹ muốn đầu tư 300 triệu USD vào Việt Nam nhưng hiện đang gặp khó khăn.

Việc tăng quy mô thị trường là bắt buộc. Quốc hội dự kiến tăng trưởng 70% quy mô trong 5 năm tới nhưng Dragon Capital tin rằng có thể đạt tới 100%. Chính phủ Việt Nam đang tỏ ra quyết tâm trong việc giải quyết khu vực doanh nghiệp nhà nước nhưng cũng cần sự giúp đỡ của các quỹ như quỹ của chị Hằng trong việc phát triển quỹ hưu trí để cân bằng phần cung.

Yếu tố quan trọng thứ 2 là chất. So sánh về mặt bằng giá, Việt Nam đang ở mức thấp so với các nước trong khu vực. Các công ty cần có trách nhiệm, các nhà đầu tư cần biết bảo vệ mình và các cơ quan quản lý cần có thêm thẩm quyền. Các nhà đầu tư nước ngoài đang khá băn khoăn về vấn đề cơ quan quản lý tại Việt Nam và đó là lý do khiến họ còn ngập ngừng trong vấn đề đầu tư.

Ông Nguyễn Duy Hưng: Xin hỏi chị Hằng, chị đã huy động hơn 100 triệu USD vốn đầu tư từ nước ngoài. Có thể nói nếu “gãi đúng chỗ ngứa”, đi vào đúng đối tượng thì sẽ rất hấp dẫn. Chị Hằng Quản lý Công ty SSIAM, một quỹ đầu tư 100% vốn Việt Nam nhưng huy động được vốn từ nước ngoài. Vậy NĐT quan tâm cái gì, có vướng mắc gì?

Bà Lệ Hằng: Các NĐT nước ngoài đánh giá cao tiềm năng đầu tư của Việt Nam. Tuy nhiên, họ vẫn lo ngại về chất lượng của các doanh nghiệp.

Tại SSIAM, chúng tôi không chỉ đi tìm các doanh nghiệp tiềm năng mà các công ty này còn cần kế hoạch phát triển bền vững và bộ máy quản trị minh bạch. Chúng tôi luôn tìm kiếm và chia sẻ cơ hội đầu tư hợp tác với các NĐT trong nước và nước ngoài.

Ông Nguyễn Duy Hưng: Quy mô đầu tư rất quan trọng, các công ty đủ lớn để thu hút NĐT tham gia. Tôi ở PAN Group, vì có quy mô lớn nên chúng tôi huy động vốn NĐT nước ngoài rất dễ, thậm chí chảnh, được quyền lựa chọn NĐT, huy động 100 triệu USD không phải khó. Tôi muốn nhấn mạnh rằng, tiềm năng của thị trường và niềm tin của NĐT nước ngoài với thị trươngg còn lớn và còn nhiều cơ hội đối với các công ty. Tuy nhiên, không thể lớn quá nhanh như Phù Đổng, các công ty lớn theo tuổi, tăng trưởng mạnh để thu hút đầu tư. Tôi cho rằng giá trị lớn nhất của DN là xây dựng được bộ máy và phát triển mạnh nguồn nhân lực.

Xin hỏi ông Lê Song Lai, trong chủ trương thoái vốn NN sắp tới có gì mới không?

Ông Lai: Theo quy định vừa qua, các cơ quan chức năng đẩy mạnh cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước, đây là tiền đề quan trọng để chứng kiến nhiều hàng hóa chất lượng trên thị trường chứng khoán. Theo chủ trương, Nhà nước sẽ thoái toàn bộ kể cả các doanh nghiệp đang làm ăn tốt. Tôi kỳ vọng trong thời gian tới, quá trình Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước và đưa lên sàn chứng khoán giao dịch sẽ đạt kết quả tích cực.

SCIC đang triển khai tích cực thoái vốn 10 doanh nghiệp quan trọng nhất như VNM, FPT, BMP, NTP... Hiện nay, SCIC đang tiến hành thoái vốn 9% tại VNM. Khi thoái vốn tại các doanh nghiệp này có ba yêu cầu đặt ra là tối ưu hóa giá trị Nhà nước thu về, doanh nghiệp sau thoái vốn hoạt động tốt và đảm bảo sự ổn định của thị trường. Sang năm tới SCIC sẽ tiếp tục thoái vốn tại FPT, SGC… Tôi kỳ vọng trong thời gian sớm nhất sẽ có thêm nhiều hàng hóa từ Nhà nước cung cấp ra thị trường để nhà đầu tư lựa chọn.

Ông Nguyễn Duy Hưng:Xin ông Dương chia sẻ kinh nghiệm phát triển bền vững, để có nhiều công ty như Coteconts trong tương lai?

Ông Dương: Chúng tôi bắt đầu tham gia thị trường chứng khoán với vốn hạn hẹp, kỳ vọng chỉ huy động đủ để phát triển và đảm bảo quyền lợi nhà đầu tư.

Lần đầu tiên Coteccons tăng vốn vào 4 năm trước khi thị trường đang khó khăn, CTD huy động 4 triệu USD. Nhiều người đặt ra câu hỏi tại sao cần thêm vốn. Với vai trò người đứng đầu, tôi nhìn thấy có rất nhiều dự án khả thi. Nếu không có khoản tiền treo sẵn ở ngân hàng, không ai ký với mình. Để vào ngân hàng gần 1.000 tỷ, các chủ đầu tư tin tưởng.

Điều này rất khó giải thích cho nhà đầu tư nhưng chỉ khi nào thành công các nhà đầu tư sẽ tin.

Mới đây, Coteccons huy động 1.700 tỷ. Đây là quá trình nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh. Nhiều nhà đầu tư đặt ra câu hỏi tại sao thặng dư vốn ngân hàng vẫn cần tiền. Thị trường bất động sản lúc lên lúc xuống. Việc tăng vốn là để Coteccons chuẩn bị cho tương lai, mở rộng lĩnh vực kinh doanh liên quan đến xây dựng, M&A doanh nghiệp khác, tham gia lĩnh vực VLXD hay văn phòng cho thuê mang nguồn thu ổn định,….

Lợi nhuận cho nhà đầu tư khi đó mới ổn định. Không chuẩn bị như vậy thì không phát triển được. Trong phương án phát hành này, nhiều cổ đông nước ngoài đề nghị bán ra cao nhất. Nhưng Coteccons đưa ra một mức giá hợp lý ngay từ đầu và không thay đổi để có lợi cho nhà đầu tư tham gia.

Ở Nhật, CBCNV có lợi nhất rồi mới đến cổ đông. Trong khi tại Coteccons quyền lợi cố gắng cân bằng. Tôi tin rằng phương thức chúng tôi đi tương đối đúng và về lâu dài mang lại lợi ích cho NĐT.

Ông Nguyễn Duy Hưng: Vai trò thanh khoản của thị trường quan trọng, trong những công ty tham gia thị trường có công ty bóp méo chỉ số, dù Luật đã ban hành rồi. Với vai trò của kiểm toán, ông Cường có cao kiến gì, đưa ra chuẩn mực gì để gác cổng luật khi các chỉ số bị bóp méo?

Ông Cường: Khi nhìn lại chúng tôi thấy quy định VN vẫn còn khoảng cách tương đối lớn so với quy chung của quốc tế, như anh Hưng nói nếu làm chặt quá bản thân chủ nhà cũng không vào được nhà của mình.

Chúng tôi là đối tượng bị điều chỉnh cũng không muốn quy định phức tạp quá, anh Dương hay anh Dũng cũng không muốn phức tạp vì nó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh.

Như anh Dương nói tài sản đang bị định giá thấp với quốc tế, một trong những lý do là vì họ không hiểu được chuẩn mực của Việt Nam. Khi bên ngoài không hiểu, họ chiết khấu ở mức an toàn nhất. Về lợi ích tổng thể hãy mạnh dạn thay đổi để đạt được chuẩn mực mà quốc tế thừa nhận chung. Nếu khó khăn để áp dụng rộng rãi thì chỉ áp dụng trước với công ty niêm yết, cho thời gian 2 đên 3 năm để chuyển đổi.

Nói về chuẩn mực kiểm toán, chúng ta đang tương đối gần nhưng thừa 1 chuẩn mực so với quốc tế. Điều tôi muốn nói là chuẩn mực về kế toán thiếu khoảng 10 chuẩn mực so với quốc tế và có 8 chuẩn mực quốc tế điều chỉnh rồi mà Việt Nam vẫn giữ nguyên. Về cơ bản, chúng ta đang tụt hậu tương đối xa, các chuẩn mực so sánh với quốc tế chỉ khoảng 30% thôi, tuy nhiên không nên quá quan ngại liệu VN đáp ứng được không, chuẩn mực chỉ là luật chơi thôi. Trong năm đầu tiên có thể bị ảnh hưởng nhưng không phải là cái gì không thể với tới, chỉ cần chúng ta quyết tâm đi theo con đường đó.

Ông Nguyễn Duy Hưng: ông Dominic tiếp xúc nhiều với các quỹ chỉ số, ông có bình luận gì ?

Ông Dominic: Tôi hết sức tán thành rằng nếu Việt Nam đi từ thị trường sơ khởi lên thị trường mới nổi, thị trường sẽ hưởng lợi rất nhiều. Chỉ số thị trường sơ khởi chỉ bằng 1/100 chỉ số thị trường mới nổi.

Các chỉ số rất quan trọng và các NĐT nước ngoài thực sự quan tâm tới vấn đề này bởi nó liên quan đến việc quản trị rủi ro.

Tôi rất mừng rằng Việt Nam đang thiết lập một bộ chỉ số toàn diện, điển hình như VN Allshare. Mục đích khi xây dựng các chỉ số là hướng dẫn cho các NĐT giảm thiểu rủi ro. Theo kinh nghiệm của Dragon Capital, đây là vấn đề được các NĐT nước ngoài quan tâm nhất.

Nếu không có chỉ số chuẩn, các NĐT sẽ cảm thấy thiếu thông tin và thiếu minh bạch.

Ông Nguyễn Duy Hưng: Quy mô thị trường, tính thanh khoản... là những yếu tố quan trọng để thu hút dòng vốn. Nhưng yếu tố quan trọng nữa là yêu cầu về tính minh bạch của thị trường, tính nghiêm ngặt của chuẩn kiểm toán để NĐT có thể nhìn nhận, so sánh nghiên cứu đầu tư.

Đã là thị trường chúng ta phải cạnh tranh, từ việc cạnh tranh với thị trường Châu Âu, châu Mỹ, thị trường Thái Lan, Philippines, Malaysia… Tôi xin được hỏi, mỗi góc nhìn, ông, bà thấy điều gì giúp chúng ta cạnh tranh được nhất khi kéo vốn về Việt Nam?

Chủ tịch UBCK, ông thấy chúng ta lấy gì là yếu tố cạnh tranh trong thời gian tới được cho là quan trọng nhất?

Ông Bằng: Mặt chất là cái quan trọng trên thị trường chứng khoán. Nhà đầu tư nước ngoài nhìn vào đánh giá phân tích là cần chất lượng. Tôi nghĩ vấn đề quản trị công ty, minh bạch công bố thông tin, chuẩn mực kế toán, kiểm toán, xử lý vi phạm, thanh tra… là rất quan trọng, bên cạnh đó, công cụ margin, sử dụng đúng quy định thì sẽ không bóp méo giá cả từ đó tạo lòng tin cho nhà đầu tư. UBCKNN đang tái cấu trúc phát triển cả về lượng và chất.

Về việc nâng hạng thị trường, đây là một câu chuyện khó khăn. Chúng ta đã đáp ứng được về vốn hóa, số CTCK tăng trưởng theo chuẩn MSCI, tuy nhiên vẫn còn vướng mắc ở việc room nước ngoài, giảm thiểu thủ tục đầu tư gián tiếp.

Ông Dũng: Tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến hai từ minh bạch

Ông Lai: Quan trọng nhất là yếu tố vĩ mô về sức khỏe của nền kinh tế. Môi trường đầu tư được cải thiện sẽ thu hút được các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Ông Cường: Tôi nghĩ thị trường Việt Nam trong thời gian tới vẫn có sức hút tự nhiên vì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, dân số lớn, độ trẻ của dân số. Bên cạnh đó, cái khát khao thay đổi của thế hệ trẻ, mong muốn thay đổi lớn hơn, sẽ tạo ra lợi nhuận và sự hấp dẫn với nhà đầu tư.

Tôi đồng ý với Chủ tịch Vũ Bằng rằng các quy định chặt chẽ sẽ giúp các công ty Việt Nam sẽ hấp dẫn hơn nữa.

Bà Lệ Hằng: Phát triển thị trường phụ thuộc vào nền kinh tế. Nhưng các NĐT cũng quan tâm tới tính minh bạch và độ chuẩn hóa kế toán của các doanh nghiệp hiện nay. Phải đến năm 2020, VN mới áp dụng toàn bộ chuẩn hóa quốc tế. Vậy trong 4 năm chờ đợi, chúng ta có thể khuyến khích các công ty trong VN100 sử dụng chuẩn hóa quốc tế sớm để nâng cao tính minh bạch.

Ông Dominic: Dưới góc nhìn của NĐT nước ngoài, VN nên tự hào về những gì đã đạt được trong 16-20 năm qua. Nếu chưa được như mong muốn, chúng ta nên học cách kiên nhẫn.

Ông Dương: Cá nhân tôi tin tưởng TTCK sẽ phát triển. Ngoài việc minh bạch, nâng cao năng lực quản lý, mang lại lợi ích cho cổ đông, một điều quan trọng là làm được gì đó khác người.

Hiện Coteccons mời nhiều chuyên gia nước ngoài, trả lương rất cao để vận dụng kết hợp với mình. Hình ảnh công ty, cách quản lý sẽ tốt hơn. Sắp tới đây, Coteccons có thể sẽ tham gia các dự án nước ngoài thì khả năng cạnh tranh với công ty nước ngoài là điều quan trọng. Khi đi ra nước ngoài phải có thương hiệu quốc gia. Công nhân mình đâu có trình độ như nước ngoài. Chúng tôi có nhiều công ty nước ngoài mời làm nhưng không dám đi.

Coteccons hiện có mô hình mà nhiều quốc gia chưa có và đang hiện làm rất tốt cho các công ty tư nhân. Với mô hình này, khách đến 3-4 tuần là có thể thiết kế xong trong 1-2 tháng. Thời gian thi công hoàn thành dự án nhanh hơn trung bình. Khách hàng thu hồi vốn nhanh nên chấp thuận chi trả cao hơn.
Đây là những công cụ nâng cao năng suất lao động, tạo ra lợi ích cho cổ đông và người lao động.

Ông Hưng: Nhân sự kiện kỷ niệm 20 năm thành lập ngành Chứng khoán Việt Nam tôi xin gửi lời chúc mừng tới tất cả các thành viên của thị trường. Với những gì các diễn giả đã nói ngày hôm nay, chúng ta có thể khẳng định để thị trường cạnh tranh được không có con đường nào khác là cần minh bạch và đào tạo nguồn nhân lực.

Chúng tôi muốn nói rằng để có chuẩn minh bạch, những CTCK hàng đầu nên đặt ra một chuẩn minh bạch riêng trong phạm vi gần nhất với các TTCK các nước xung quanh vì các NĐT đến với Việt Nam sẽ quan tâm nhất tới nhóm công ty hàng đầu

Những người kêu ca TTCK chưa mang lại lợi ích cho mình, phải nói lại rằng, thị trường nào cũng vậy thành hay bại yếu tố quan trọng nhất là mình, phải bảo vệ mình trước khi người khác bảo vệ vì khi được bảo vệ thì việc đã xảy ra rồi.

Chương trình NDH Talk là một chương trình định kỳ do Chuyên trang Người Đồng Hành tổ chức với sự điều phối của ông Nguyễn Duy Hưng, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc CTCP Chứng khoán Sài Gòn (SSI) kiêm Chủ tịch HĐQT Tập đoàn PAN. NDH Talk là một cuộc nói chuyện giữa Người điều phối với đại diện cơ quan quản lý, doanh nghiệp theo các chủ đề khác nhau nhằm góp phần xây dựng cầu nối giữa các doanh nghiệp, cơ quan quản lý và độc giả.

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm thị trường chứng khoán, Chuyên trang Người Đồng Hành tổ chức Buổi tọa đàm NDH Talk 2 với chủ đề “Thị trường chứng khoán 20 năm và bước chuyển của dòng vốn ngoại”.

Kể từ ngày thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo Nghị định số 75-CP của Chính phủ ban hành ngày 28/11/1996, thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua nhiều thăng trầm và cũng đạt được những thành quả đáng khích lệ. Thị trường chứng khoán Việt Nam đã phát triển cả về chất và về lượng với gần 700 doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX, cùng với 320 doanh nghiệp giao dịch trên sàn Upcom. Tính tại thời điểm 15/11, tổng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 75,61 tỷ USD, tương đương 37,8% GDP.

Thị trường chứng khoán Việt Nam đang nhận được sự quan tâm rất lớn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước khi Chính phủ quyết tâm đẩy mạnh quá trình thoái vốn nhà nước và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Hàng loạt các doanh nghiệp lớn, ngân hàng thương mại cổ phần được yêu cầu niêm yết theo đúng lộ trình sẽ tạo ra các hàng hóa chất lượng cho thị trường. Sắp tới, thị trường cũng đón nhận các sản phẩm mới chuẩn bị được vận hành như chứng khoán phái sinh, cover warrant...

Các diễn giả tham gia chương trình

Các diễn giả tham dự chương trình bao gồm:

Người điều phối: Ông Nguyễn Duy Hưng, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc CTCP Chứng khoán Sài Gòn (SSI) kiêm Chủ tịch HĐQT CTCP Tập đoàn PAN

1. Ông Vũ Bằng, Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán Nhà nước

2. Ông Trần Văn Dũng, Chủ tịch Sở GDCK TP Hồ Chí Minh (HoSE)

3. Ông Lê Song Lai, Phó Tổng giám đốc Tông công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)

4. Ông Nguyễn Bá Dương, Chủ tịch HĐQT CTCP Coteccons

5. Ông Donimic Scriven, Chủ tịch Dragon Capital

6. Bà Lê Thị Lệ Hằng, Tổng giám đốc Công ty quản lý quỹ SSI (SSIAM)

7. Ông Trần Đình Cường, Tổng giám đốc Công ty kiểm toán Ernst&Young Việt Nam

Tại tọa đàm, có rất nhiều nội dung được đề cập về quá khứ, hiện tại và tương lai của thị trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung dưới nhiều góc nhìn của những khách mời đến từ các mắt xích quan trọng của thị trường. Các diễn giả cũng sẽ đưa ra các giải pháp để có thể thu hút được dòng tiền của cả trong và ngoài nước vào thị trường chứng khoán và nền kinh tế. Và phần cuối cùng, các diễn giả sẽ đưa ra nhận định về triển vọng thị trường trong thời gian tới.

Các nội dung trao đổi tại buổi tọa đàm được tường thuật trực tiếp qua Chuyên trang Người Đồng Hành tại www.ndh.vn và livestream trên Fanpage www.facebook.com/baondh.


Từ trái qua: Ông Trần Đình Cường, ông Trần Dũng, ông Lê Song Lai

[Live] NDH Talk: 20 năm thị trường chứng khoán và bước chuyển của dòng vốn ngoại [Live] NDH Talk: 20 năm thị trường chứng khoán và bước chuyển của dòng vốn ngoại
10 92 56 reviews

(NDH) Nhân dịp kỷ niệm 20 năm thị trường chứng khoán, Chuyên trang Người Đồng Hành tổ chức Buổi tọa đàm NDH Talk 2 với chủ đề “Thị trường chứng khoán 20 năm và bước chuyển của dòng vốn ngoại”.

 

Chứng khoán

Thông tin thị trường
  • Tất cả
  • Tất cả
  • Hose
  • HNX
  • UPCom
Bình luận mới
Top