Vui lòng chờ trong giây lát

Điều gì khiến một quốc gia mạnh về bóng đá

(NDH) Sự giàu có, hứng thú với bóng đá hay kích thước một quốc gia chiếm một nửa vai trò trong thành tích quốc tế, nửa còn lại là kỹ năng có thể học được.

Baby Football là tên chương trình bóng đá quốc gia của Uruguay dành cho trẻ em từ 4 tới 13 tuổi, nơi sản sinh ra những cái tên như Luis Suarez hay Edinson Cavani. Suarez và Cavani là hai trong số những tiền đạo xuất sắc nhất thế giới, đóng vai trò mũi nhọn của đội tuyển Uruguay ở World Cup, khởi tranh hôm nay ở Nga.

Tuy không còn là ông lớn như đầu thế kỉ 20, Uruguay vẫn là một đối thủ đáng gờm khi Suarez và Cavani đưa đội tuyển vào tới vòng bán kết World Cup 2010 và giữ chức vô địch Nam Mỹ lần thứ 15 năm 2011. Khuôn mặt của họ được trưng bày tại bảo tàng bóng đá Montevideo cùng với những chiếc áo đấu và cúp danh giá.

Nếu nước Uruguay nhỏ bé có thể thành công tới vậy, tại sao những quốc gia lớn hơn, giàu có hơn không thế?

Câu hỏi này có vẻ như đã khiến Tập Cận Bình, chủ tịch Trung Quốc, phiền lòng khi ông muốn đưa nước mình trở thành cường quốc bóng đá năm 2050. Kế hoạch đưa ra bao gồm hơn 20.000 trung tâm đào tạo mới, để kết hợp cùng học viện bóng đá lớn nhất thế giới tại Quảng Châu, sẽ tiêu tốn khoảng 185 triệu USD.

Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) và Qatar đã chi hàng tỷ USD mua những câu lạc bộ hàng đầu châu Âu nhằm học hỏi từ họ. Cầu thủ bóng đá nghiệp dư Viktor Orban, người giờ là thủ tướng Hungary, đã đổ tiền vào các sân vận động. Dù chi ra rất nhiều như vậy nhưng tới nay, các quốc gia này vẫn chưa thu lại được nhiều thành quả. Trung Quốc không được tham dự World Cup năm nay, thậm chí còn thua 0-1 trước Syria.

Mô hình Baby Football ở Uruguay. Ảnh: Tarjeta Roja

Tờ Economist xây dựng một mô hình thống kê để xác định xem điều gì khiến một quốc gia mạnh về bóng đá. Mục tiêu không phải là dự đoán kết quả tại Nga năm nay mà là để khám phá những yếu tố thể thao và kinh tế quyết định tiềm năng bóng đá của một quốc gia. Kết quả của các giải đấu từ 1990 được sử dụng để tìm kiếm những tham số liên quan tới số lượng bàn thắng của mỗi đội.

Về mặt kinh tế, nhà kinh tế học Stefan Szymanski của đại học Michigan, người đã từng xây dựng mô hình tương tự, chỉ ra rằng những nước giàu có khuynh hướng thể thao hơn. Bóng đá có rất nhiều những ngôi sao đi lên từ cảnh bần hàn, nhưng những người lớn lên trong hoàn cảnh đó thường gặp nhiều trở ngại nhất.

Ví dụ, ở Senegal, huấn luyện viên phải tẩy giun và nuôi ăn các cầu thủ trước khi có thể huấn luyện họ. Không những thế, chỉ có ba địa điểm trên cả nước này có sân cỏ. Vì thế, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cũng được đưa vào trong mô hình.

Về độ phổ biến của bóng đá, năm 2006 Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA) đã yêu cầu các liên đoàn quốc gia ước tính số lượng đội bóng và cầu thủ ở bất cứ tiêu chuẩn nào. Người nghiên cứu đã thêm vào số liệu dân số để có được tỷ lệ tham gia tổng thể.

Ngoài ra, các dữ liệu mới hơn như tần suất tìm kiếm về bóng đá trên Google từ năm 2004 tới năm 2018 so vưới các môn thể thao khác như bóng bầu dục, bóng chày, bóng rổ và khúc côn cầu. Bóng đá giành được 90% sự chú ý từ châu Phi so với 20% từ châu Mỹ và chỉ 10% ở Nam Á.

Về lợi thế sân nhà, điều này đóng góp tới 0,6 bàn thắng mỗi trận. Cuối cùng, để kết quả được chính xác hơn, các nhà nghiên cứu lọc lấy 126 quốc gia đã chơi ít nhất 150 trận từ năm 1990 tới nay.

Mô hình đưa ra đã giải thích được 40% sự chênh lệch bàn thắng trung bình của các đội nhưng vẫn còn nhiều giá trị ngoại lệ. Uruguay là một trong những nước có kết quả tốt nhất, sau đó là Brazil, Argentina, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.

Đáng buồn cho các quốc gia tham vọng, dữ liệu cho thấy Trung Quốc và Trung Đông đã có sự thể hiện vượt quá tiềm năng khiêm tốn của mình. Chỉ 2% người Trung Quốc chơi bóng đá năm 2006, theo FIFA, so với con số 7% ở châu Âu hay Nam Mỹ. Các quốc gia Trung Quốc và Trung Đông đôi khi đủ điều kiện tham gia World Cup nhưng chưa từng thắng một trận nào trong giải đấu này từ năm 1998.

Một điểm đáng kinh ngạc nhất mà mô hình này chỉ ra là điều đem tới thành công trong bóng đá không phụ thuộc vào sự chỉ đạo của những người quản lý bóng đá.

Tuy nhiên, các nhà quản lý bóng đá với giấc mơ chiến thắng ở World Cup có thể học được 4 điều từ mô hình này. Một, khuyến khích trẻ em phát triển sáng tạo. Hai, không bỏ sót tài năng trẻ. Ba, tận dụng tối đa mạng lưới bóng đá toàn cầu rộng lớn và bốn, chuẩn bị kỹ càng cho giải đấu.

Bài học từ Uruguay là để nhiều trẻ em được tiếp xúc với bóng đá nhất có thể, để phát triển kỹ thuật. Ông Tập muốn đưa bóng đá vào 50.000 trường học ở Trung Quốc trước năm 2025. Nước này có thể triển khai một kế hoạch tương tự như "Dự án 119", một chương trình đào tạo khép kín cho thanh thiếu niên nhằm giúp Trung Quốc đứng đầu bảng xếp hạng huy chương tại Olympic Bắc Kinh 2008.

Vấn đề là việc huấn luyện liên tục như vậy làm "mất đi những cạnh thô tạo nên thiên tài", biên tập viên Jonathan Wilson của tờ Blizzard cho biết. Cầu thủ của Đông Đức trải huấn luyện gian khổ hơn cầu thủ Tây Đức nhưng lại chỉ tham dự được một giải đấu lớn.

Bí quyết ở đây không chỉ là khiến nhiều trẻ em chơi bóng đá, mà còn phải để chúng phát triển một cách sáng tạo. Ở nhiều quốc gia, trẻ em tự học các chơi bóng. Tổng thống Liberia George Weah, người từng là tiền đạo nguy hiểm nhất châu lục, đã hoàn thiện kỹ năng của mình với một quả bóng rách ở khu ổ chuột. Zinedine Zidane là một trong số những tượng đài bóng đá của Pháp đã trưởng thành từ bóng đá đường phố.

Những cơ hội như vậy biến mất ở các quốc gia giàu có. Ông Matt Crocker, người đứng đầu bộ phận phát triển cầu thủ của Liên đoàn bóng đá Anh nói rằng phụ huynh ngày nay khá miễn cưỡng trong việc cho trẻ ra ngoài đá bóng. Nhiều khu vực còn có biển hiệu cấm đá bóng.

Liên đoàn bóng đá Đức cũng rất quyết tâm. Đầu những năm 2000, họ nhận ra các cầu thủ lực lưỡng của họ gặp nhiều khó khăn trước các đội bóng khéo léo hơn. Nếu theo như mô hình thì đội tuyển quốc gia Đức sẽ đứng đầu vì Đức là một quốc gia giàu có với lượng cầu thủ lớn và không có môn thể thao cạnh tranh. Nhưng trong khoảng thời gian từ 1990 tới 2005, họ chỉ ghi được khoảng 1/3 bàn thắng mỗi trận, thấp hơn kỳ vọng rất nhiều.

Vì thế Liên đoàn bóng đá Đức đã cải tiến. Các câu lạc bộ Đức đã chi khoảng 1,2 tỷ USD để phát triển các học viện trẻ từ năm 2001, đáp ứng 250 tiêu chuẩn quốc gia. Các thanh thiếu niên được đào tạo gấp đôi đến tuổi 18. Tuy nhiên, việc đào tạo tập trung hơn vào sự sáng tạo trong các môi trường ngẫu nhiên. Theo như mô hình nghiên cứu chỉ ra, từ năm 2006, đội tuyển Đức đã thể hiện đúng với kỳ vọng cao đặt ra.

Nước Anh cũng học tập Đức, tái thiết chương trình đào tạo trẻ từ năm 2012. Các tuyển thủ được khuyến khích chấp nhận rủi ro và tự suy nghĩ. Các cầu lạc bộ Tây Ban Nha từ lâu đã rất xuất sắc ở mặt này, thế nhưng việc đội tuyển U17 Anh đánh bại Tây Ban Nha 5-2 năm trước đã thể hiện rõ ràng thành quả của nước Anh.

Bài học thứ hai cho các nhà lãnh đạo tham vọng là đảm bảo các cầu thủ trẻ tài năng không bị bỏ sót. Liên đoàn bóng đá Đức nhận ra rằng nhiều tài năng đã bị bỏ qua bởi những người chiêu mộ nên họ đã thành lập thêm các trung tâm 360 địa phương cho những đối tượng này. Một trong số những tài năng đã không bị bỏ sót là Andre Schurrle, người đã thực hiện đường kiến tạo cho bàn thắng quyết định giúp Đức giành được chức vô địch World Cup 2014.

Năm 2010, khi Nga giành được quyền tổ chức World Cup 2018, ông Guus Hiddink, huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia Nga khi đó đã muốn thành lập một chương trình chiêu mộ toàn quốc nhưng không được chấp nhận. Đội tuyển Nga sau đó đã không giành được một chiến thắng nào tại giải Vô địch châu Âu 2016.

Nga hiện có đội hình già nhất trong những quốc gia tham gia World Cup 2018. Tầm nhìn ngắn hạn cũng đã khiến Mỹ không được tham dự World Cup năm nay. Theo như mô hình thì lẽ ra Mỹ phải là một trong những quốc gia mạnh nhất. Nhưng rất ít cầu thủ được huấn luyện nghiêm túc trong hệ thống trường đại học nghiệp dư, và những cầu thủ từ các giải thấp hơn, không được huấn luyện cho giải Vô địch quốc gia Mỹ thì sẽ không thể được tham dự.

Chương trình tập trung được thiết lập dễ dàng hơn tại các quốc gia nhỏ. Mỗi đội Baby Football của Uruguay đều được lưu trữ kết quả trong cơ sở dữ liệu quốc gia. Iceland đủ tiêu chuẩn tham gia World Cup dù chỉ có dân số khoảng 330.000 người và 100 chuyên gia toàn thời gian, đã đào tạo hơn 600 huấn luyện viên để làm việc với các câu lạc bộ cơ sở. Từ năm 2000 họ đã xây dựng 154 sân nhỏ với hệ thống sưởi ngầm để cho mọi trẻ em có cơ hội chơi bóng có giám sát.

Những chương trình như vậy là không khả thi ở châu Phi. Ông Abdoulaye Sarr, một cựu quản lý ở Senegal cho biết số lượng tài năng là rất lớn nhưng chưa được khai thác. Tiền đầu tư có thể bị các quan chức phung phí. Để tránh các vấn đề này, Senegal gửi 300 tài năng trẻ tới Nga.

Tây Phi đã sử dụng bài học thứ ba bằng các khai thác mạng lưới thể thao toàn cầu. Tây Âu là trung tâm của mạng lưới này với những câu lạc bộ giàu có nhất, cầu thủ được huấn luyện tốt nhất. Bờ biển Nga tuy không được tham dự World Cup năm nay nhưng là nơi đã xuất khẩu một thế hệ các ngôi sao trẻ tới Bevenren, một câu lạc bộ của Bỉ. Nhiều trong số họ sau đó đã phát triển mạnh ở giải Ngoại hạng Anh.

21st Club, một văn phòng tư vấn bóng đá, lưu ý rằng trong số các quốc gia châu Âu, Balkan xuất khẩu phần lớn cầu thủ tới các giải đấu nội địa mạnh hơn. Từ năm 1991, khi Croatia giành được độc lập, không câu lạc bộ nào của họ tiến xa ở giải Vô địch châu Âu nhưng nước này đã bán rất nhiều cầu thủ cho các câu lạc bộ như Real Madrid, Barcelona, Bayern Munich và Milan. Sau đó, chính những cầu thủ này đã đưa Croatia tới vòng bán kết World Cup năm 1998.

Xuất khẩu cầu thủ không phải là cách duy nhất để thu lợi từ các chuyên môn nước ngoài. Phần lớn sự đào tạo bóng đá của Nam Mỹ tới từ những huấn luyện viên Do Thái chạy trốn khỏi châu Âu trong những năm 1930.

Ngày nay có rất nhiều những huấn luyện viên danh tiếng tới làm việc ở châu Á. Tuy nhiên, ông Szymanski của đại học Michigan cho rằng rất ít người có thể đem tới sự cải thiện cho các đội bóng này. Ở ngoài châu Âu và Nam Mỹ, các đội bóng còn không bằng được bản thân họ 20 năm trước.

Ông Szymanski cho rằng những quốc gia này đang gặp phải mội loại "bẫy thu nhập trung bình" trong bóng đá, trong đó các nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng sao chép công nghệ từ những nước phát triển hơn nhưng không thưc hiện tái cơ cấu.

Một người quản lý thông minh có thể mang tới những chiến thuật mới nhưng không thể tạo ra một thế hệ cầu thủ trẻ sáng tạo. Trung Quốc được cho là đang thuê ông Marcello Lippi, người dẫn dắt Italy tới chiến thắng năm 2006, khoảng 28 triệu USD một năm. Trừ khi ông này được hỗ trợ bởi các huấn luyện viên trẻ, những người chiêu mộ tài tình và một thế hệ cầu thủ trẻ yêu bóng đá, số tiền này có thể là một sự lãng phí.

Bài học cuối cùng là dành cho chính World Cup: chuẩn bị kỹ càng. Năm 2014, đội tuyển Nigeria đã không tham gia huấn luyện vì tiền lương. Ông Fabio Capello phải ra đi mà không nhận được 11 triệu USD tiền lương vì khủng hoảng kinh tế Nga.

Các quyết định khó khăn nhất là đối với tuyển thủ. Kết quả của đội tuyển Anh trên chấm phạt đền là rất tệ khi trượt tới 6 trong số 7 quả trong các giải đấu.

Vui buồn của một kỳ World Cup phụ thuộc vào hàng thập kỷ lên kế hoạch. Một quốc gia có thể lên kế hoạch tỉ mỉ và vẫn thất bại vì một cú đập bóng kém may mắn hay một quyết định của trọng tài. Nhưng đối với khán giả, sự ngẫu nhiên này lại đem lại hi vọng.

Những đội bóng từ châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ vẫn là kẻ yếu, nhưng có thể điều kì diệu năm 2002 của Hàn Quốc sẽ tái diễn. 21st Club cho rằng có 25% khả năng một nhà vô địch mới sẽ xuất hiện năm nay. Trong một tháng tới, người hâm mộ trên toàn thế giới sẽ quên đi hết những tháng năm đau đơn và tin rằng lịch sử bóng đá quốc gia mình có thể được viết nên một chương mới.

Điều gì khiến một quốc gia mạnh về bóng đá Điều gì khiến một quốc gia mạnh về bóng đá
10 3345 56 reviews

(NDH) Sự giàu có, hứng thú với bóng đá hay kích thước một quốc gia chiếm một nửa vai trò trong thành tích quốc tế, nửa còn lại là kỹ năng có thể học được.

 

Thời sự

Thông tin thị trường
  • Tất cả
  • Tất cả
  • Hose
  • HNX
  • UPCom
Bình luận mới
Top